Cách mưu cầu lẽ thật (22)
Các ngươi cảm thấy thế nào sau khi nghe những câu nói và nội dung về đặc tính của nhân tính mà chúng ta đã thông công trong thời gian vừa qua? Các ngươi đã rõ ràng phần nào về đặc tính của người thực sự có nhân tính chưa? (Thưa, đã rõ hơn trước đây phần nào.) Vậy các ngươi nghe xong rồi thì có tổng kết được những đặc trưng chính của người có đặc tính nhân tính là gì hay không? Các ngươi có biết dựa vào những nội dung chi tiết và cụ thể của mối thông công mà nhìn nhận đặc trưng trong nhân tính của một người nào đó là gì hay không? (Thưa, thông qua mối thông công của Đức Chúa Trời trong thời gian vừa qua, con đã hiểu được rằng người có đặc tính nhân tính thì có lương tâm và lý trí, có thể phân định đúng sai.) Người có đặc tính của lương tâm và lý trí trong nhân tính thì nhìn nhận con người và sự việc, làm người và hành động trên nền tảng là lương tâm và lý trí. Quan điểm nhìn người và nguyên tắc làm người của họ được xây dựng trên nền tảng là lương tâm và lý trí này. Nói vậy rất chính xác, phải không? (Thưa, phải.) Một người không có lương tâm và lý trí thì có một vài đặc trưng về quan điểm nhìn người và nguyên tắc làm người. Còn người có lương tâm và lý trí cũng có một vài đặc trưng về quan điểm nhìn người và nguyên tắc làm người, những đặc trưng này hoàn toàn không sáo rỗng, chúng đều được bộc lộ và biểu hiện thực tế trong cuộc sống của người có lương tâm và lý trí. Bất kể sinh ra trong thời đại nào hay dạng hoàn cảnh xã hội nào, nếu có lương tâm và lý trí thì người ta sẽ sống thể hiện ra một vài đặc tính của nhân tính. Trong mỗi một chuyện trong cuộc sống hoặc trong đa số những chuyện liên quan đến tư tưởng, quan điểm và nguyên tắc làm người, họ sẽ bộc lộ rõ ràng những đặc tính của lương tâm và lý trí, chuyện này hoàn toàn không sáo rỗng. Các ngươi hãy đối chiếu với những người xung quanh mà xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Một người có lương tâm và lý trí thì sẽ có những biểu hiện chính trực và lương thiện. Dưới sự ép buộc và tác dụng của lương tâm, họ sẽ có một vài ranh giới tối thiểu trong cách làm người và hành động, đồng thời dưới tác dụng và sự ràng buộc của lý trí, hoặc trong phạm vi của lý trí, họ cũng sẽ có một vài biểu hiện cụ thể và một vài điều họ sống thể hiện ra một cách cụ thể. Vì vậy, để biết một người có lương tâm và lý trí hay không thì phải xem biểu hiện thực tế của họ, phải xem những quan điểm, nguyên tắc và ranh giới tối thiểu thường ngày của họ trong việc nhìn nhận con người và sự việc, làm người và hành động, có phù hợp với tiêu chuẩn của lương tâm và lý trí hay không, xem ranh giới tối thiểu tận cùng của họ có nằm trong phạm vi của lương tâm và lý trí hay không, có ở dưới sự kiểm soát của lương tâm và lý trí hay không. Khi nhìn nhận con người và sự việc, làm người và hành động, nếu lương tâm và lý trí của người ta không phát huy tác dụng, họ cũng không chịu sự kiểm soát và ràng buộc của lương tâm và lý trí, thì người này sẽ thường xuyên biểu hiện ra trạng thái đi ngược lại lương tâm và lý trí hoặc đánh mất lương tâm và lý trí. Trong cuộc sống, những điều mà người này biểu hiện và sống thể hiện ra chính là thiếu lương tâm và không có lý trí. Khi gặp chuyện thì họ toàn nói lý lẽ méo mó, tư tưởng và quan điểm của họ đặc biệt cực đoan và bất thường. Họ nói năng thì không chú trọng cách nói, cũng không phân biệt người trong kẻ ngoài, toàn nói những lời thừa thãi và hồ đồ. Khi hành động, họ cũng thường xuyên vượt quá phạm vi của lý trí, không có nguyên tắc, không có ranh giới tối thiểu, càng không có sự khôn ngoan, còn đặc biệt bốc đồng, chỉ toàn làm những chuyện ngu ngốc và ngu xuẩn. Bất kể là qua lại với người khác hay xử lý việc gì, họ chẳng bao giờ tìm được đúng nguyên tắc và phương hướng, càng khỏi nói đến chuyện có nguyên tắc và có ranh giới tối thiểu trong cách làm người. Họ không biết cách làm người, không biết làm người là gì và mình nên làm loại người nào, cũng không biết cuộc đời đích thực là gì hay con đường mà người ta nên đi là gì. Trong lòng họ hoàn toàn không có bất kỳ khái niệm nào về những điều này, ngày ngày họ sống mơ mơ hồ hồ, không có bất kỳ mục tiêu hay phương hướng nào. Gặp chuyện gì, họ cũng hồ đồ cho qua, cũng không tổng kết được kinh nghiệm, bài học, hay con đường thực hành đúng đắn nào. Sống đến bao nhiêu tuổi, họ vẫn cứ mơ mơ hồ hồ và hồ đồ như vậy. Dạng người như vậy có lương tâm và lý trí hay không? (Thưa, không có.) Trông họ có vẻ ngày nào cũng sống rất vui vẻ, rất thoải mái, ngây ngô khờ khạo, và chẳng có khó khăn gì. Nhưng khi gặp chuyện gì càng liên quan đến tư tưởng và quan điểm, càng liên quan đến nguyên tắc làm người, thì họ càng hồ đồ, càng không biết phải làm thế nào. Nhất là khi gặp những con người, sự việc và sự vật phức tạp thì ngay cả sự khôn ngoan, sự thông minh và nguyên tắc cơ bản nhất cho việc làm người, họ cũng không có. Bất kể xét về trí thông minh hay về nguyên tắc làm người, dạng người này đều không đạt đến mức có đặc tính của nhân tính. Con người sống trong nhân thế này đều sẽ phải đối diện với đủ loại người, sự việc và sự vật khác nhau, đều sẽ phải đối diện với những chuyện lớn nhỏ trong cuộc sống. Khi gặp những con người, sự việc và sự vật này, một con người đích thực có lương tâm và lý trí thì sẽ có nguyên tắc, có một vài tư tưởng và quan điểm tương đối đúng đắn và tích cực. Hơn nữa, khi xử lý những con người, sự việc và sự vật này, họ cũng sẽ đưa ra những phán đoán trong phạm vi của lý tính. Ngay cả khi chưa tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời và chưa hiểu lẽ thật, họ vẫn sẽ phán đoán và xử lý những chuyện này trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Bất kể gặp phải chuyện gì, họ cũng không mơ mơ hồ hồ và hồ đồ, thay vào đó, họ chịu sự thúc đẩy và ràng buộc của lương tâm và lý trí, cho nên họ sẽ có những nguyên tắc làm người cơ bản để xử lý những chuyện này. Ngoài biểu hiện chính trực và lương thiện ra, người có đặc tính của lương tâm và lý trí trong nhân tính còn có một đặc trưng rõ rệt nhất, chính là có ý thức liêm sỉ. Trước đây khi thông công về những biểu hiện chính trực và lương thiện, Ta cũng đã thông công đôi chút về phương diện có ý thức liêm sỉ này rồi. Ngoài những nội dung đã thông công trước đây ra, vẫn còn rất nhiều nội dung cụ thể hơn. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục thông công về chúng.
Vì người có lương tâm và lý trí có tác dụng của lương tâm, còn có cả lý trí, nên trong chuyện làm người chắc chắn họ sẽ có đặc trưng là có ý thức liêm sỉ một cách rõ ràng. Trước tiên, hãy nói về một vài biểu hiện hoặc câu nói liên quan đến ý thức liêm sỉ mà các ngươi đã tiếp xúc trong cuộc sống. Chẳng hạn, có những lời dơ bẩn mà ngươi không nói ra được, cảm thấy nói ra thì xấu hổ, đây có phải là có ý thức liêm sỉ không? (Thưa, phải.) Có những chuyện xấu xa, tà ác, không thể công khai, và ngươi không làm được những chuyện đó, đây có phải là có ý thức liêm sỉ không? Khi bản thân làm những chuyện đáng hổ thẹn thì trong lòng ngươi thấy hối hận và ghét chính mình, đây có phải là có ý thức liêm sỉ không? (Thưa, phải.) Còn có những biểu hiện nào nữa? (Thưa, người có ý thức liêm sỉ thì biết giữ thể diện và biết ngại.) Đây là những chuyện mà ai cũng có thể nghĩ đến. Nếu đổi một cách nói khác về có ý thức liêm sỉ thì nên diễn đạt thế nào? (Thưa, là biết xấu hổ.) Trong cuộc sống người ta thường nói: “Rốt cuộc anh có biết xấu hổ hay không?”, phải vậy không? (Thưa, phải.) Có ý thức liêm sỉ chủ yếu liên quan đến điều gì? Có phải liên quan đến nhân cách và tôn nghiêm không? (Thưa, phải.) Một người có ý thức liêm sỉ thì đặc biệt quan tâm đến nhân cách và tôn nghiêm của mình. Họ sẽ không đánh mất nhân cách hoặc dùng tôn nghiêm của bản thân để đổi lấy những thứ mà người ta cho là tốt hoặc có lợi cho mình. Ở một tầng nghĩa nào đó, có ý thức liêm sỉ chính là dù mất đi lợi ích cũng phải bảo vệ nhân cách và tôn nghiêm của bản thân. Người có ý thức liêm sỉ mà hành động thì có tác dụng của lương tâm, nghĩa là trong mắt người khác, họ tương đối có nhân cách và tôn nghiêm. Lời nói và hành động của họ đều có thể đưa ra công khai và đều quang minh chính đại. Họ không làm những chuyện đê tiện và bỉ ổi, hơn nữa, những nguyên tắc mà họ tuân theo hoặc những đạo lý mà họ nói ra đều có thể đứng vững giữa mọi người, không bị người ta chỉ trỏ hay nói ra nói vào sau lưng. Nói cách khác, nếu có ý thức liêm sỉ thì phương thức và phương pháp hành động của người ta tương đối quang minh chính đại. Họ không giở chiêu trò, không đê tiện và bỉ ổi. Ranh giới tối thiểu và phương thức hành động của dạng người này về cơ bản đều nằm trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Nguyên tắc, phương thức và mục tiêu làm người của người có ý thức liêm sỉ chính là như vậy. Ngoài những điều này ra, người có ý thức liêm sỉ chắc chắn còn có một số biểu hiện cụ thể, một số điều mà họ sống thể hiện ra và bộc lộ một cách cụ thể. Hoặc trong một số chuyện, họ có những tư tưởng và quan điểm tương đối tích cực, họ làm người và hành động dưới sự chỉ dẫn của những tư tưởng và quan điểm tích cực này. Chẳng hạn như, khi hội thánh bầu chọn lãnh đạo các cấp, người có ý thức liêm sỉ vì có tâm tính bại hoại, nên cũng thích địa vị, cũng có dã tâm, muốn được người khác xem trọng, muốn có địa vị và danh vọng cao giữa mọi người, về điểm này, họ cũng giống với những người khác. Nhưng cách mà người có ý thức liêm sỉ dùng để đạt được địa vị không phải là nghĩ đủ cách để phô trương và khoe khoang bản thân hầu khiến cho anh chị em xem trọng mình, cũng không phải là mặt dày đi tranh giành với người khác, dùng những thủ đoạn bất thường hoặc những phương thức không vẻ vang để làm một vài việc đê tiện. Họ muốn dựa vào bản lĩnh thực sự của mình để được bầu làm lãnh đạo, ví dụ như đạt được một vài thành quả trong công tác nghiệp vụ bằng sở trường hoặc sự chịu khó chịu khổ và trả giá của mình, hoặc làm một vài việc có ích cho anh chị em thông qua việc sống thể hiện ra nhân tính tốt của mình để từ đó nhận được sự công nhận của đa số anh chị em, rồi về sau có thể được bầu làm lãnh đạo. Nếu không được bầu, trong lòng họ cũng có chút không cam tâm. Sự không cam tâm này cũng là một sự bộc lộ bại hoại bình thường, là một dạng biểu hiện rất tự nhiên của nhân loại bại hoại. Nhưng họ có thể tiếp cận đúng đắn với chuyện này: “Người ta không bầu mình, cho thấy mình vẫn còn kém, có lẽ mình vẫn còn thiếu sót ở phương diện nào đó. Người ta không bầu mình thì mình cũng không được cố chấp tranh giành. Ít nhất mình phải có điểm đáng khen về tố chất, về nhân tính hoặc về năng lực công tác thì người ta mới bầu mình. Mình không có điểm gì đáng khen nên người ta không bầu cho, vậy mà mình vẫn mặt dày đòi làm lãnh đạo thì chẳng phải quá mất mặt sao!”. Sau khi thất cử, mặc dù trong lòng cũng có chút thất vọng và buồn bã, nhưng họ có thể phản tỉnh và nhận biết bản thân, xem mình còn khiếm khuyết hay thiếu sót ở phương diện nào, cũng xem người được bầu rốt cuộc có sở trường gì, vì sao được anh chị em bầu, và người đó giỏi hơn mình ở phương diện công tác nào, tố chất tốt hơn mình ở chỗ nào. Người có ý thức liêm sỉ sẽ tiếp cận chuyện này một cách lý tính, tuyệt đối sẽ không vì thất cử mà chống đối, oán trách, xét đoán hay chửi bới om sòm, họ tuyệt đối sẽ không làm những chuyện đó. Vì sao họ không làm những chuyện đó? Bởi vì loại người này có lý trí. Cho dù gặp phải một vài trắc trở hay thất bại, họ cũng không đánh mất lý trí và vẫn sống trong phạm vi của lý trí, cho nên họ sẽ tiếp cận với chuyện này một cách lý tính. Ngay cả khi dưới sự thúc đẩy hoặc tác dụng của tâm tính bại hoại mà họ cảm thấy khó chịu, tiêu cực, thậm chí có chút không phục, nhưng vì có lý trí nên họ nhanh chóng điều chỉnh tâm thái và tình trạng của mình trong thời gian ngắn, sau đó đối diện với chuyện thất cử một cách lý tính. Họ sẽ không đi tranh giành, cũng sẽ không dùng những thủ đoạn hoặc phương thức mờ ám hòng đạt được mục đích của mình, họ sẽ không làm những chuyện vượt quá giới hạn. Nói cách khác thì trong mắt người khác, người này cũng giống như những người có tâm tính bại hoại khác, cũng yêu thích địa vị, cũng có dã tâm và dục vọng muốn đạt được địa vị, nhưng sự yêu thích địa vị và cách họ đạt được địa vị đều nằm trong phạm vi kiểm soát của đặc tính có ý thức liêm sỉ trong nhân tính họ. Họ sẽ không dùng những thủ đoạn bất thường để đạt được địa vị, cũng sẽ không vì địa vị hoặc để thỏa mãn dã tâm, dục vọng của mình, mà phô trương bản thân, nói ra những lời không biết liêm sỉ nhằm khiến người khác xem trọng mình. Họ tuyệt đối sẽ không nói những lời như vậy, không làm những chuyện như vậy. Thay vào đó, họ âm thầm dốc công sức vào việc mưu cầu lẽ thật và làm bổn phận. Họ làm nhiều hơn và nói ít hơn, cố hết sức kiềm chế dã tâm và dục vọng đối với địa vị của mình. Họ hy vọng thông qua nỗ lực của bản thân thì họ có thể đạt được thành tích và biểu hiện tốt hơn, chuẩn bị đủ vóc giạc hầu thỏa mãn điều kiện để đảm đương công tác của lãnh đạo và người làm công. Đồng thời họ cũng hy vọng nỗ lực của mình có thể được anh chị em nhìn thấy và công nhận, rồi sau này có thể được bầu làm lãnh đạo. Người có ý thức liêm sỉ, cho dù có dã tâm muốn được bầu làm lãnh đạo, thì vẫn làm những chuyện tương đối lý tính trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Hoặc nói cách khác, ngay cả khi có dã tâm của nhân loại bại hoại, họ vẫn quan tâm đến nhân cách và tôn nghiêm của bản thân, họ làm một số chuyện được cho là phải lẽ, đúng đắn và tương đối tích cực trong tư tưởng và quan niệm của nhân loại bại hoại, với điều kiện là không đánh mất nhân cách và tôn nghiêm của mình. Do đó, cho dù người có ý thức liêm sỉ đứng trước địa vị hay dục vọng, thì ý thức liêm sỉ mà họ biểu hiện ra cũng đặc biệt rõ ràng. Ngay cả khi thích địa vị và muốn làm lãnh đạo, họ vẫn quan tâm đến nhân cách và tôn nghiêm của bản thân, nghĩa là tư tưởng, quan điểm cùng phương thức và nguyên tắc hành động của họ đối với những chuyện như vậy tương đối lý tính và tương đối tích cực. Trước hết, họ không ngụy tạo một số sự thật để lừa lấy sự tín nhiệm hoặc sự xem trọng của người khác, ngoài ra, họ cũng không dùng lời lẽ ngon ngọt hoặc bề ngoài giả tạo có thể lừa lấy thiện cảm của người khác để khiến người ta xem trọng mình. Ngay cả khi thích địa vị và muốn được bầu làm lãnh đạo, họ cũng không ngụy tạo, không lừa dối, không giở thủ đoạn. Họ cho rằng nguyên tắc cơ bản mà mình cần tuân giữ nhất chính là hành động một cách vững vàng, cố gắng chịu khó làm bất kỳ chuyện gì Đức Chúa Trời yêu cầu và bất kỳ chuyện gì đúng đắn, cố làm cho tốt hơn nữa, đồng thời dốc thêm công sức vào lẽ thật. Họ nghĩ bụng: “Nếu mình hiểu thêm lẽ thật và biết thông công lẽ thật, thì anh chị em có bầu mình làm lãnh đạo không?”. Họ hy vọng đạt được sự công nhận của người khác thông qua nỗ lực của bản thân, thông qua việc sống thể hiện ra một cách thực tế những biểu hiện có lương tâm và có lý trí, chứ không phải bằng cách ngụy tạo. Nói theo kiểu thông tục, thì họ muốn dựa vào bản lĩnh thực sự, tài năng thực sự và việc làm thực tế của mình để đạt được sự công nhận của người khác, sau đó có cơ hội được bầu làm lãnh đạo. Ngươi thấy dạng người này có ý thức liêm sỉ hay không? (Thưa, có.) Các ngươi nói xem, đánh giá loại người này như vậy có khách quan hay không? (Thưa, khách quan.) Khách quan ở điểm nào? (Thưa, mặc dù loại người này cũng thích danh vọng và địa vị, cũng có dã tâm và dục vọng, nhưng họ vẫn có thể dùng tiêu chuẩn của lương tâm để ràng buộc bản thân, có thể quan tâm đến nhân cách và tôn nghiêm của mình. Họ không làm trò giả vờ hay lừa dối để lừa lấy sự xem trọng và tín nhiệm của người khác, thay vào đó, họ muốn thông qua sự trả giá và nỗ lực thực sự của bản thân để đạt được sự công nhận của người khác. Con cảm thấy dạng người như vậy, nói một cách tương đối, thì có phần nào ý thức liêm sỉ.) Nếu một người khi đối diện với địa vị mà ngay cả biểu hiện của lương tâm và lý trí cũng không có, nhưng người ta vẫn nói họ có ý thức liêm sỉ, thì chẳng phải lời này sáo rỗng và không thực tế sao? (Thưa, phải.) Vậy để nói một người nào đó có ý thức liêm sỉ thì trong trường hợp nào mới là khách quan và không sáo rỗng? Chính là khi gặp chuyện, thì họ thực sự có những biểu hiện của lương tâm và lý trí, bao gồm cả biểu hiện của ý thức liêm sỉ trong nhân tính bình thường. Ý thức liêm sỉ này có phải là điều mà nhân tính bình thường nên có hay không? (Thưa, phải.)
Vậy dạng người có ý thức liêm sỉ này biểu hiện như thế nào giữa mọi người? Họ làm việc thực tế. Họ không dựa vào những thủ đoạn như a dua nịnh hót, kéo bè kết phái, kích động người khác, ngụy tạo, giả vờ, lừa dối, nói dối, trước mặt một đàng sau lưng một nẻo, v.v., để đạt được danh vọng và địa vị mà mình mong muốn. Thay vào đó, họ cắm đầu làm việc chăm chỉ. Sự thật khách quan ở đây là gì? Chính là vì có tâm tính bại hoại, nên người có ý thức liêm sỉ sẽ rất tự nhiên bộc lộ ra một số đặc tính, tư tưởng, quan điểm cùng dã tâm và dục vọng của nhân loại bại hoại, đây là chuyện rất bình thường. Tuy nhiên, cùng có dã tâm như nhau và cùng thích địa vị như nhau, nhưng người có ý thức liêm sỉ sẽ không dùng những thủ đoạn bất thường để đạt được địa vị, thay vào đó, họ muốn dựa vào bản lĩnh thực sự để làm việc thực tế. Đương nhiên, nếu tố chất, nhân tính và mọi phương diện khác của loại người này đều đạt yêu cầu, thì sớm muộn gì họ cũng sẽ được bầu làm lãnh đạo. Nhưng nếu ở một tập thể nào đó trong xã hội hoặc tại nơi làm việc, kết cục của loại người có lương tâm và lý trí này sẽ là gì? Họ chẳng những không được đề bạt hoặc trọng dụng, mà thậm chí còn bị tẩy chay và chèn ép. Họ không biết a dua nịnh hót, cũng không biết biếu xén hay lấy lòng lãnh đạo, càng không biết xây dựng mối quan hệ tốt với đồng nghiệp. Họ không biết giở thủ đoạn, không biết lừa dối, cũng không biết vận dụng những triết lý xử thế cao tay để chơi trò hai mặt. Ngươi bảo họ làm những chuyện này thì họ luôn cảm thấy ngại và không làm nổi. Ngươi bảo họ nịnh bợ lãnh đạo và chỉ toàn nói lời tốt đẹp về lãnh đạo, thì họ không nói ra được, vì họ chẳng cảm thấy lãnh đạo có gì tốt đẹp. Nếu họ trái lòng nói ra một câu nịnh nọt như: “Lãnh đạo ngày đêm bận rộn vì công việc, đã phải hao tâm tổn trí vì chúng ta”, thì ngay cả bản thân họ cũng tự cảm thấy ngượng, sau đó còn muốn tự tát vào miệng mình. Họ nghĩ bụng: “Đám lãnh đạo này suốt ngày ăn uống chơi bời, ăn đến béo mập, mặt mày hồng hào, ngày đêm bận rộn gì chứ? Họ toàn là những tên tham quan không lo việc chính đáng, chỉ biết ăn chơi trác táng. Họ đều là lũ ma quỷ ăn thịt người, uống máu người!”. Trong lòng họ đặc biệt căm ghét những hạng người này, không muốn nói dù chỉ một câu nịnh nọt trái với lòng mình. Họ cảm thấy những lời nịnh nọt quá kinh tởm, có chết họ cũng không nói ra được. Mặc dù trong xã hội, họ cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi bầu không khí của xã hội, cũng có thể nói vài câu trái lòng, nhưng họ có một giới hạn, họ sẽ không nói quá đáng đến mức khiến người khác kinh tởm. Nếu thực sự để xử lý một chuyện nào đó mà phải biếu xén và nhờ vả người khác, thì đó vì bất đắc dĩ. Họ thực sự rơi vào thế bí và hết cách rồi, nên mới trái lòng làm chuyện như vậy. Nhưng sau khi làm xong chuyện đó, họ cũng sẽ hối hận, cảm thấy mình đã đánh mất tôn nghiêm và không còn mặt mũi gặp người khác. Chuyện này đã để lại một bóng đen trong lòng họ, cả đời họ cũng không thể quên được. Người có ý thức liêm sỉ, khi rơi vào một số hoàn cảnh đặc biệt, vì bơ vơ, vì áp lực của cuộc sống hoặc áp lực của hoàn cảnh, mà bất đắc dĩ làm ra một số việc đánh mất nhân cách và tôn nghiêm, thì cả đời họ sẽ cảm thấy đó là một nỗi nhục. Bất kỳ lúc nào nhớ lại, họ cũng cảm thấy hối hận, đau đớn âm ỉ trong lòng, và thề rằng sau này tuyệt đối sẽ không bao giờ làm những chuyện như vậy nữa.
Có ý thức liêm sỉ là một đặc trưng rõ rệt trong đặc tính của nhân tính. Đặc trưng này có thể ràng buộc người ta không làm hoặc bớt làm những việc đánh mất nhân cách và tôn nghiêm. Nó cũng có thể bảo vệ cho người ta không vi phạm ranh giới tối thiểu của lương tâm và lý trí, giúp người ta lựa chọn làm một số việc tương đối tích cực và đúng đắn, điểm này rất quan trọng. Cho dù đứng trước địa vị, lợi ích và tiền bạc, cho dù là vì cuộc sống hay sự sinh tồn, thì khi làm bất kỳ chuyện gì, người có ý thức liêm sỉ vẫn chịu sự ràng buộc của lương tâm và lý trí, họ sẽ không vượt qua ranh giới tối thiểu này. Nếu thỉnh thoảng có vượt qua ranh giới tối thiểu, làm một số chuyện trái với lương tâm và lý trí, khiến bản thân đánh mất tôn nghiêm và mất đi nhân cách, thì ý thức liêm sỉ của họ sẽ càng mãnh liệt hơn, sự cắn rứt của lương tâm cũng sẽ tăng lên. Bởi vì một khi loại người này vượt qua ranh giới tối thiểu của ý thức liêm sỉ hoặc phá vỡ sự kiểm soát và ràng buộc của ý thức liêm sỉ, thì trong lòng họ càng cảm thấy bất an hơn, càng áy náy và tự trách hơn. Do đó, các ngươi có thể thấy, người có ý thức liêm sỉ mà đứng trước những người có địa vị và thân phận thì lộ rõ là rất cô lập và rất lạc quẻ, thậm chí khiến người khác cảm thấy họ có phần lạc loài. Những người hoàn toàn không có lương tâm và lý trí mà ở cùng nhau thì đặc biệt hòa hợp, còn người có lương tâm và lý trí mà ở cùng với những người đó thì lại đặc biệt khó xử. Người không có lương tâm và lý trí thì dù nói chuyện trái với sự thật đến đâu cũng không thấy khó chịu trong lòng, dù nói ra những lời vô liêm sỉ đến mức nào cũng không có cảm giác gì. Ngược lại, vì loại người có lương tâm và lý trí này có ý thức liêm sỉ, nên chẳng những bản thân họ không nói ra được những lời đó, mà khi nghe được những lời đó, họ cũng cảm thấy khó chịu và chướng tai. Vì vậy, đối với họ, phải sống lẫn với những người không có ý thức liêm sỉ chính là một dạng đau khổ. Dạng đau khổ này một mặt đến từ ý thức liêm sỉ của họ, mặt khác đến từ sự bài xích của người khác đối với họ. Bởi vì nguyên tắc làm người và xử sự của họ khiến người ta cảm thấy họ rất đặc biệt, rất lạc loài, như kiểu không vướng bụi trần vậy. Trong mắt người khác, họ là kiểu đạo mạo giả tạo, nên người ta bài xích hoặc xa lánh họ. Do đó, ở trong tập thể người ngoại đạo, nhất là trong môi trường công sở, loại người này đều bị tẩy chay, dùng cách nói của người ngoại đạo thì loại người này không được chào đón. Người ngoại đạo đều muốn dựa vào đủ loại thủ đoạn bất thường để leo lên cao, và không từ thủ đoạn nào để đạt được thứ mình mong muốn. Ngược lại, người có ý thức liêm sỉ thì luôn muốn dựa vào bản lĩnh để kiếm sống một cách công bằng, hợp lý và chính đáng. Nhưng cách làm này không dùng được trong bất kỳ tập thể xã hội nào, bởi vì luật chơi trong bất kể tập thể nào trong xã hội đều không công bằng, thay vào đó ai cũng dùng những quy tắc ngầm. Những người hanh thông và có danh vọng đều giỏi sống theo những quy tắc ngầm này, còn người có ý thức liêm sỉ vì muốn bảo vệ nhân cách và tôn nghiêm của mình nên mãi mãi không thể tiếp nhận những quy tắc ngầm của xã hội. Họ không hiểu quy tắc ngầm là gì, cũng không thích quy tắc ngầm, càng không biết vận dụng quy tắc ngầm. Vì vậy, trong tập thể, người khác có thể được đề bạt hoặc được lãnh đạo coi trọng, còn họ vì có ý thức liêm sỉ nên nói năng và hành động luôn chuẩn mực, trong lòng có gì thì nói nấy, thỉnh thoảng lại đắc tội đồng nghiệp hoặc lãnh đạo, thỉnh thoảng lại chạm đúng chỗ đau của lãnh đạo, và khiến lãnh đạo phải nghe những lời không muốn nghe nhất, đến khi họ nhận ra thì đã quá muộn rồi. Cuối cùng thế nào? Bất kể đã nỗ lực bao nhiêu năm hoặc có thâm niên bao lâu, họ vẫn không được đề bạt hay trọng dụng. Đối với loại người có lương tâm, lý trí và ý thức liêm sỉ này, sống trong một tập thể như vậy là hạnh phúc hay đau khổ? (Thưa, là đau khổ.) Khi chưa nhìn thấu xã hội này, chưa nhìn thấu nhân loại bại hoại này, họ cố tìm mọi cách để hòa nhập vào xã hội, hòa nhập vào nhóm người mà mình đang sống. Nhưng bởi vì có lương tâm và lý trí, nên họ không làm được những chuyện trái với nhân cách và tôn nghiêm. Do đó, bất kể cố gắng đến đâu, bất kể bỏ ra bao nhiêu nỗ lực, bao nhiêu hy sinh, cuối cùng kết quả vẫn là họ làm thế nào cũng không thể hòa nhập vào xã hội này, làm thế nào cũng không thể hòa nhập vào nhóm người mà mình đang sống, làm thế nào cũng vẫn lạc quẻ với những người đó, mà bản thân họ cũng không hiểu được lý do tại sao. Trong lòng họ cảm thấy: “Xã hội này quá bất công. Nếu không biết giở thủ đoạn, không biết a dua nịnh hót, luôn muốn giữ gìn nhân cách và tôn nghiêm của mình hoặc đạt được mục đích của mình, thì chẳng thể đi đến đâu trong trong bất kỳ tập thể nào”. Đây là một kinh nghiệm mà người có ý thức liêm sỉ đã tổng kết ra trong quá trình sinh tồn nơi xã hội. Vậy cảm nhận cuối cùng của họ là gì? Đối với xã hội loài người này, họ thích hay thất vọng? (Thưa, thất vọng.) Chỉ có thể là thất vọng. Họ mang trong mình hy vọng mà bước vào xã hội, cảm thấy trong xã hội vẫn đa số là người tốt, xã hội vẫn có công bằng, có chính nghĩa và có chỗ để nói lý lẽ. Nhưng sau bấy nhiêu năm bôn ba vất vả trong xã hội, kết quả cuối cùng họ đạt được là gì? Chính là họ thể nghiệm và lĩnh hội được rằng nhân gian chẳng những không có sự công bằng và công chính, mà còn là thứ hiểm ác. Hổ ăn thịt người còn cho người ta cơ hội tránh né, chứ người mà trị người thì đến cả cơ hội tránh né cũng không có. Cuối cùng họ chỉ đạt được kết quả như vậy, họ nản lòng và thất vọng đối với xã hội và nhân loại rồi. Họ cũng muốn bắt chước những người đó mà giở chút thủ đoạn, a dua nịnh hót, gần gũi lãnh đạo, gần gũi cấp trên, biếu xén và tạo quan hệ tốt với người khác, nhưng họ học thế nào cũng không học được, nói vài câu nịnh hót cũng không trôi chảy, kết quả lại phản tác dụng và trở thành trò cười cho người khác. Nhưng sống trong xã hội này, họ bất đắc dĩ vẫn phải làm như vậy. Mỗi ngày lương tâm họ đều cắn rứt và bất an, họ cảm thấy sống chẳng có hy vọng, ngoài áp lực ra thì chỉ còn đau khổ, và ngày nào họ cũng có cảm giác thất bại. Đối với họ, đối diện với đủ loại chuyện của xã hội này và tập thể người này, chính là một sự đau khổ, và sự đau khổ này khiến nội tâm họ cảm thấy cực kỳ bất an. Mặc dù họ cũng học nói một số lời không biết liêm sỉ, hoặc bắt chước người khác làm một số chuyện trái với lương tâm và lý trí, nhưng nội tâm họ vẫn bất an, vẫn bị quở trách và cắn rứt. Nội tâm họ càng bất an thì trong lòng họ càng ghét xã hội này và nhân loại này, phải vậy không? (Thưa, phải. Họ cảm thấy xã hội này bất công, nên sẽ căm ghét xã hội này.) Họ sẽ căm ghét nhân loại này và xã hội này, sẽ mong mỏi sự công bằng và công chính xuất hiện, mong mỏi xuất hiện một người có thể chủ trì chính nghĩa và chủ trì công đạo, mong mỏi có một nơi để nói lý lẽ. Nhưng những điều này chỉ là nguyện vọng, không thể thành hiện thực trong đời thực, trong xã hội không có lấy một nơi để nói lý lẽ. Mặc dù vì chịu ảnh hưởng từ xã hội này và vì sống trong đủ loại tập thể tà ác, mà họ bất tri bất giác bị tiêm nhiễm một số thứ thịnh hành và được đề xướng bởi những trào lưu tà ác, hoặc tương đối phổ biến, nhưng ý thức liêm sỉ cùng sự khao khát công bằng, chính nghĩa và những điều tích cực trong sâu thẳm nội tâm họ vẫn không biến mất, vẫn không thay đổi. Nội tâm họ vẫn hy vọng sự công bằng và công chính xuất hiện, để họ không cần phải sống trái lòng như vậy, không cần phải bán rẻ nhân cách và tôn nghiêm của mình, cũng không cần vì kế sinh nhai và sự sinh tồn mà đánh mất ý thức liêm sỉ, mà sống và làm người một cách vô liêm sỉ như vậy. Mặc dù sống quá lâu trong xã hội và giữa những người bại hoại đã khiến họ nhiễm phải một số thói hư tật xấu, khiến họ chạy theo trào lưu xã hội, có vẻ như lương tâm và lý trí của họ đã bị bào mòn và che lấp, nhưng nếu là một con người đích thực thì lương tâm và lý trí của họ sẽ không bao giờ biến mất. Lương tâm và lý trí không biến mất thì ý thức liêm sỉ của họ sẽ luôn tồn tại. Chỉ là vì đã ở quá lâu trong xã hội, học quá nhiều tri thức và triết lý xử thế, trong nhân tính có thêm một số thói hư tật xấu và trong tâm tính có thêm một số thứ thuộc về ma quỷ và Sa-tan, nên lương tâm và lý trí họ trở nên tương đối tê liệt và chậm chạp hơn. Nhưng chỉ cần họ là con người, có đặc tính của lương tâm và lý trí trong nhân tính, thì ý thức liêm sỉ của họ sẽ luôn tồn tại. Người như vậy chính là người có thể được cứu rỗi.
Một người có lương tâm và lý trí thì cũng có ý thức liêm sỉ. Mà người có ý thức liêm sỉ cũng chính là người có nhân cách và tôn nghiêm, dạng người này sẽ yêu thích sự công bằng và công chính, yêu thích những điều tích cực. Nghĩa là, xét từ thực chất bản tính của họ thì họ là người yêu thích những điều tích cực, chỉ là trước khi hiểu được cái gì là điều tích cực thì họ không biết mình nên thích điều gì và không nên thích điều gì. Khi đã hiểu được cái gì là điều tích cực và cái gì là điều tiêu cực, thì những điều tích cực mà họ yêu thích sẽ trở nên cụ thể và rõ ràng hơn. Nếu một người có lương tâm và lý trí, thì một biểu hiện cơ bản trong đặc tính nhân tính của họ chính là yêu thích sự công bằng và công chính. Họ hy vọng bản thân khi sống giữa tập thể có thể được đối đãi công bằng, không cần phải dùng thủ đoạn hay quỷ kế gì, cũng không cần tuân theo quy tắc ngầm gì. Họ hy vọng con người qua lại với nhau một cách công bằng, và người ta nhận được những đãi ngộ công bằng: Một là một, hai là hai, ngươi làm sai thì chính là làm sai, ngươi đáng chịu hình phạt gì thì chịu hình phạt đó, nếu ngươi không làm sai và có cống hiến thì nên được thưởng, người có bản lĩnh và chân tài thực học thì nên được tôn trọng, được đề bạt và trọng dụng, còn người không có chân tài thực học thì không nên được trọng dụng. Người có lương tâm và lý trí thích dạng tập thể như vậy, dạng môi trường sống như vậy. Ngay cả khi họ đã sống lâu trong xã hội, vì chịu ảnh hưởng của những trào lưu tà ác mà có một vài thói quen không tốt hoặc tiếp nhận một số tư tưởng và quan điểm sai lầm, cũng đã gặp phải trắc trở và chướng ngại, thì cuối cùng họ vẫn cảm thấy chỉ có quay trở về với ý thức liêm sỉ mới thích hợp. Khi làm chuyện gì đó thì họ sẽ vô thức quay trở lại nguyên tắc bảo vệ nhân cách và tôn nghiêm của bản thân. Khi dạng người này sống lâu trong xã hội, sống lâu giữa tập thể, và bị ảnh hưởng, thì cũng giống như một viên ngọc tốt bị ném vào đống rác và bám đầy bụi bẩn. Ngay cả khi lớp bụi bẩn đó rất dày, rất bẩn, thì thực chất của viên ngọc vẫn không thay đổi, chỉ cần loại bỏ bụi bẩn đi thì thứ lộ ra vẫn là một viên ngọc. Do đó, khi người có lương tâm, lý trí và ý thức liêm sỉ đến nhà Đức Chúa Trời, thì môi trường sống trong nhà Đức Chúa Trời cũng như công tác mà Đức Chúa Trời thực hiện và những lời mà Ngài bày tỏ vừa hay phù hợp với nhu cầu trong sâu thẳm nội tâm họ. Nhu cầu trong sâu thẳm nội tâm họ là gì? Chính là họ yêu thích sự công bằng và công chính, yêu thích những điều tích cực, chán ghét sự tà ác, chán ghét những quy tắc ngầm của xã hội, chán ghét những trò đấu đá công khai và ngấm ngầm giữa người với người. Khi dạng người này đến nhà Đức Chúa Trời, trải qua sự vạch trần, phán xét và hành phạt của lời Đức Chúa Trời, rồi tiếp tục trải qua sự thử luyện và tinh luyện của Đức Chúa Trời, cuối cùng thông qua việc thuận phục lời Đức Chúa Trời và tiếp nhận sự phán xét cùng hình phạt của lời Đức Chúa Trời, họ từng chút một thoát khỏi đủ loại tâm tính bại hoại bộc lộ ra từ nhân tính của mình, cùng những thứ ô uế và thói xấu thường thấy trong mình, rồi họ sẽ trở thành một con người mới. Có nghĩa là một khi người có ý thức liêm sỉ có được tiêu chuẩn nhân tính cơ bản là tiếp nhận lẽ thật, thuận phục lời Đức Chúa Trời, nhìn nhận con người và sự việc, làm người và hành động theo lời Đức Chúa Trời, thì họ có thể dựa vào lời Đức Chúa Trời mà nhận biết tâm tính bại hoại của bản thân cùng các loại tư tưởng và quan điểm không đúng đắn khác nhau, nhận biết cách làm người sai lầm của mình và con đường sai lầm mà mình đã chọn. Bất kể những thứ này là họ học được từ xã hội hay trực tiếp đến từ việc họ bị Sa-tan làm cho bại hoại, tóm lại, nếu một người có ý thức liêm sỉ thì sau khi tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, họ sẽ có thể thực hành lẽ thật, dần dần loại bỏ những tâm tính bại hoại đó, và sẽ có hy vọng rất lớn trong chuyện được cứu rỗi.
Nếu một người không có ý thức liêm sỉ, thì họ căn bản không có điều kiện nhân tính cơ bản là tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, thuận phục lời Đức Chúa Trời, cũng như nhìn nhận con người và sự việc, làm người và hành động theo lời Đức Chúa Trời. Vì sao họ không có điều kiện cơ bản này? Bởi vì đối với những điều tiêu cực, đối với các loại trào lưu tà ác của xã hội hoặc triết lý của Sa-tan thì dạng người không có ý thức liêm sỉ này không chán ghét, trái lại còn say mê những thứ đó, có thể tiếp nhận, đề xướng và tuyên truyền những quan điểm đó. Họ không cảm thấy đây là chuyện đáng xấu hổ, cũng không cảm thấy đây là chuyện trái với lương tâm và lý trí. Có nghĩa là họ hoàn toàn không có cảm giác hổ thẹn. Có giở thủ đoạn thế nào, làm những chuyện trái lòng thế nào, họ cũng không cảm thấy xấu hổ. Người có nhân tính và có ý thức liêm sỉ mà nhìn vào thì còn cảm thấy ngượng thay cho họ, nhưng bản thân họ chẳng những không thấy phản cảm chút nào khi làm những chuyện này, mà còn vui vẻ tận hưởng chúng. Những người không có ý thức liêm sỉ mà ở trong thùng thuốc nhuộm khổng lồ là xã hội này thì đúng là như cá gặp nước, họ chẳng thấy phản cảm hay căm ghét gì, đây chính là chốn vui chơi của họ. Họ ghét sự công bằng và công chính, cũng ghét người khác đối xử với họ theo cách công bằng. Họ thích những phương thức bất công và bất chính trong xã hội, bởi như vậy họ mới có cơ hội dùng đủ loại thủ đoạn không chính đáng mà đạt được thứ mình muốn. Họ cảm thấy bất công thật tuyệt, thấy những trào lưu tà ác và quy tắc ngầm đó thật tuyệt. Tuyệt ở điểm nào vậy? Thì đủ loại trào lưu và quy tắc ngầm của thế giới tà ác này cho họ đạt được bất kỳ thứ gì họ muốn, thỏa mãn dã tâm và dục vọng của họ, cũng thỏa mãn đủ loại yêu cầu tà ác của họ, vì thế họ cảm thấy thế gian này thật tuyệt. Nếu trong xã hội xuất hiện sự công bằng và công chính thì họ sẽ không còn không gian sinh tồn, cũng không có cách nào hiện thực hóa được dã tâm và dục vọng của mình. Chính vì xã hội bất công và có quy tắc ngầm nên họ mới có cơ hội hanh thông, mới có thể ở trên người khác. Nếu thế gian này có sự công bằng và công chính, thì những người tà ác và người không có ý thức liêm sỉ sẽ không thể nổi bật. Do đó, khi nghe những lời về sự công bằng và công chính, họ liền thấy rất phản cảm và thẹn quá hóa giận. Ngược lại, người có ý thức liêm sỉ mà nghe những lời về sự công bằng và công chính thì trong lòng cảm thấy cuộc đời tràn đầy ánh sáng và cảm thấy có hy vọng. Khi nhìn thấy ánh sáng, tâm hồn họ được giải phóng. Nếu nhìn thấy xã hội đầy rẫy sự tà ác, mọi người đều sống theo triết lý của Sa-tan và hành động theo quy tắc ngầm, thì họ sẽ cảm thấy con đường phía trước ảm đạm và không có ánh sáng. Vì thế, đối với người có ý thức liêm sỉ, sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời cùng lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ chính là nhu cầu trong thế giới nội tâm của họ, cũng là điều họ khao khát và mong mỏi. Sự xuất hiện của Đức Chúa Trời, công tác của Đức Chúa Trời và sự thật rằng lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời làm cho những người có ý thức liêm sỉ và có đặc tính nhân tính nhìn thấy hy vọng và nhìn thấy ánh sáng. Sau khi họ đến nhà Đức Chúa Trời, mặc dù tâm tính bại hoại vẫn làm chủ lời nói và hành động của họ, nhưng trong tâm hồn họ khao khát những điều tích cực, và họ sẵn lòng tiếp nhận lẽ thật. Xét từ phương diện nhu cầu của nhân tính, họ chịu sự chi phối của lương tâm và lý trí, lời nói và hành vi của họ cũng có thể chịu sự ràng buộc, khi bộc lộ sự bại hoại, họ cũng có thể nhận biết bản thân. Nếu đạt đến việc hiểu lẽ thật và hành động theo nguyên tắc, thì họ có thể được Đức Chúa Trời khen ngợi. Sống trong nhà Đức Chúa Trời thì họ cảm thấy có hy vọng, thấy được tiền đồ sáng sủa, và nội tâm họ tràn đầy hy vọng. Mỗi khi nói đến chuyện “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời là công chính, và nơi nào có Đức Chúa Trời nắm quyền thì nơi đó có sự công bằng và công chính”, nội tâm của người có lương tâm và lý trí sẽ cảm thấy vui mừng và được an ủi, đương nhiên, đó cũng là điều mà họ khao khát. “Khao khát” nghĩa là gì? Nghĩa là khi nói đến “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời”, thì trong lòng họ vui mừng và được giải phóng, từ trong sâu thẳm nội tâm họ thưa Amen với những lời này và cảm thấy được tận hưởng. Khi nói đến “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời, nơi nào có công tác của Đức Chúa Trời thì nơi đó sự công bằng và công chính nắm quyền”, người có đặc tính của lương tâm và lý trí trong nhân tính sẽ cảm thấy nội tâm được thỏa mãn vô cùng. Hai tuyên bố này đã mang đến phương hướng cho cuộc đời họ, cũng thỏa mãn nhu cầu trong nhân tính của họ. Chưa chắc họ đã hiểu được bao nhiêu lẽ thật, cũng chưa chắc họ có thể thực hành được bao nhiêu lời Đức Chúa Trời, nhưng chỉ cần nghe câu “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời” là họ đã cảm thấy đặc biệt được an ủi và nội tâm đặc biệt được thỏa mãn. Câu này có thể cộng hưởng đặc biệt với lòng họ và khuấy động lòng họ, đây là một biểu hiện của nhu cầu nhân tính. Thái độ của người ta đối với câu này và cảm giác trong sâu thẳm nội tâm họ đối với câu này cho thấy rất nhiều về thực chất và thuộc tính của họ. Ngươi thấy đấy, Sa-tan và ma quỷ khi nghe câu “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời” thì liền thấy phản cảm: “Lẽ thật nắm quyền là gì chứ? Tôi đâu có thấy lẽ thật nắm quyền!”. Khi nghe câu “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời”, họ cảm thấy như đang bị định tội, như bị đòi mạng vậy, cho nên họ thấy phản cảm, đây là phản ứng của Sa-tan và ma quỷ khi nghe câu này. Ngược lại, khi những người hồ đồ và những người thuộc loại động vật nghe câu này thì ngoài miệng họ cũng thừa nhận rằng lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời, nhưng trong lòng họ lại hoàn toàn không có cảm giác gì. Họ chẳng vui mừng hay hân hoan, cũng không có bất kỳ sự đồng hưởng nào. Mặc dù ngoài miệng họ có thể phụ họa theo và không phản đối, nhưng đó không phải là nhu cầu trong lòng họ. Nhưng con người đích thực thì khác. Họ khao khát và mong mỏi sự công bằng và công chính, cho nên khi nghe lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời thì nội tâm họ tràn đầy hy vọng. Ngay cả khi gặp phải một vài khó khăn và trắc trở đặc biệt, hoặc khi bị kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác đối xử bất công, thì lúc nghĩ đến chuyện lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời, nội tâm họ sẽ tràn đầy hy vọng, tình trạng của họ cũng ngày càng tốt hơn, thậm chí có người còn vui mừng hớn hở. Con người đích thực mà nghe câu “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời” thì có cảm giác hoàn toàn khác với cảm giác của những người thuộc loại Sa-tan, ma quỷ và động vật. Ngươi thấy đấy, thỏ con nhìn thấy cà rốt và cỏ xanh thì thích thú và ăn mãi không thôi. Nhưng sói mà nhìn thấy cà rốt và cỏ xanh thì phản cảm, nói rằng: “Thứ này có gì ngon đâu! Ta thấy thỏ con với gà mới ngon!”. Ngươi có nói cà rốt và cỏ xanh bổ dưỡng thế nào thì sói nghe xong cũng vô cảm. Vì vậy, loại người do động vật đầu thai mà nghe câu “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời”, thì mặc dù họ thừa nhận câu này đúng về mặt đạo lý, nhưng nội tâm họ lại thấy phản cảm với câu này, hoàn toàn không tiếp nhận và vĩnh viễn không thừa nhận đây là sự thật. Ngược lại, con người đích thực mà nghe câu “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời, nơi Đức Chúa Trời có sự công bằng và công chính”, thì trong lòng cảm thấy đặc biệt đầy đủ, cảm thấy mình có con đường để đi, và có hy vọng trong việc làm người rồi. Ngươi thấy đấy, đối với cùng một chuyện, người có thuộc tính khác nhau sẽ có biểu hiện khác nhau. Con người đích thực có cảm nhận rõ rệt như vậy đối với câu “lẽ thật nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời”, thì đối với những lẽ thật khác, bao gồm những việc thực hành cụ thể và những giáo huấn cụ thể của Đức Chúa Trời dành cho con người, người có lương tâm và lý trí sẽ đặc biệt khao khát. Ngay cả hiện tại, vì vóc giạc nhỏ bé, vì bị Sa-tan làm bại hoại quá sâu, mà tâm tính bại hoại của họ vẫn chưa thay đổi chút nào nên họ gặp chút khó khăn trong việc thực hành lẽ thật, nhưng mỗi khi nhìn thấy những lời này của Đức Chúa Trời, trong lòng họ đều thấy cảm động và được khích lệ, họ sẽ hạ quyết tâm thuận phục lời Đức Chúa Trời và thực hành lời Đức Chúa Trời. Đối với họ, lời Đức Chúa Trời chính là động lực khích lệ họ tiếp tục bước đi trên con đường phía trước, đương nhiên lời Đức Chúa Trời cũng là con đường thực tế để họ mưu cầu việc trở thành người được Đức Chúa Trời yêu thích. Chẳng hạn như, khi Đức Chúa Trời nói về các câu chuyện của Nô-ê, Gióp, Áp-ra-ham và Phi-e-rơ, thì người có đặc tính nhân tính sau khi nghe xong sẽ lập tức thấy ngưỡng mộ. Họ ngưỡng mộ đến mức nào? Dùng một cách nói không mấy ăn khớp, thì chính là “thèm nhỏ dãi”. Nghĩa là, khi nghe những người đó có thể kính sợ và thuận phục Đức Chúa Trời như vậy, thì họ cũng muốn trở thành người như vậy. “Mình cũng muốn thờ phượng Đức Chúa Trời giống như Gióp và Nô-ê. Hy vọng mình có thể tuyệt đối thuận phục Đức Chúa Trời và không bị pha tạp ý riêng giống như Áp-ra-ham”. Họ có một dạng khao khát, đó là khi nghe những câu chuyện và lời chứng của các nhân vật này, họ sẽ được lay động và được khích lệ. “Được lay động” có nghĩa là gì? Nghĩa là họ muốn trở thành người như vậy. Họ cảm thấy làm người như vậy thật tốt, cảm thấy đây chính là nhu cầu trong nội tâm họ. Họ cảm thấy làm người như vậy có thể làm thỏa mãn Đức Chúa Trời, thuận phục Đức Chúa Trời, và làm chứng cho Đức Chúa Trời. Họ cảm thấy đây là chuyện tốt đẹp nhất, có ý nghĩa nhất và có giá trị nhất. Trong mắt họ, những chuyện này là quý giá nhất và đáng trân quý nhất. Vì vậy, khi nghe những chuyện tích cực này, trong lòng họ liền xúc động, đặc biệt yêu thích, đặc biệt hứng thú và có ấn tượng đặc biệt sâu sắc. Bởi vì những chuyện này vừa hay đáp ứng nhu cầu đối với sự công bằng và công chính cùng sự khao khát đối với những điều tích cực trong nội tâm họ, cho nên chúng là điều mà họ hứng thú và là điều không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Còn đối với những thứ không có giá trị và ý nghĩa, thì họ chẳng hứng thú. Mặc dù trước khi tiếp xúc với lẽ thật và lời Đức Chúa Trời, có khả năng họ đã đọc một số tác phẩm văn học hoặc bài viết liên quan đến nhân sinh quan và triết lý nhân sinh của thế gian, nhưng sau khi tin Đức Chúa Trời và tiếp xúc với lời Đức Chúa Trời rồi, họ so sánh những chuyện kia với những câu chuyện nhân vật hoặc lẽ thật được đề cập trong lời Đức Chúa Trời, thì họ không còn thích những thứ của thế giới ngoại đạo đó nữa. Điều họ yêu thích nhất vẫn là những nội dung liên quan đến lẽ thật này. Có nghĩa là trong lòng họ có sự khao khát và mong mỏi đối với những điều tích cực, đối với lời Đức Chúa Trời, và đối với những câu chuyện nhân vật liên quan đến lẽ thật. Trên nền tảng này, họ mới có thể từng bước hiểu lẽ thật và bước vào thực tế lẽ thật. Trước hết, những điều tích cực, lẽ thật, sự công bằng và công chính là nhu cầu của nhân tính trong họ. Khi có những nhu cầu này trong nhân tính rồi, lúc nghe thấy lẽ thật, họ mới có thể biểu hiện sự khao khát và mong mỏi, mới có thể tiến thêm một bước mà tiếp nhận, thuận phục và bước vào. Dạng người như vậy mới có hy vọng được làm tinh sạch và được cứu rỗi. Vì vậy, ý thức liêm sỉ là điều vô cùng quan trọng trong nhân tính của một con người.
Nếu ngươi bảo người có ý thức liêm sỉ làm những chuyện đi ngược lại nhân cách và tôn nghiêm, thì nội tâm họ sẽ đau khổ. Được sống có tôn nghiêm và nhân cách chính là nhu cầu trong nhân tính của họ. Trên nền tảng này, có thể nói rằng việc họ tiếp nhận lẽ thật là một chuyện rất tự nhiên, có thể nói đây là chuyện tất yếu sẽ đến, đương nhiên cũng là chuyện tương đối dễ dàng. Nói là tương đối dễ dàng bởi vì con người vẫn có tâm tính bại hoại. Nhưng xét về nhân tính thì người có ý thức liêm sỉ sẽ dễ tiếp nhận lẽ thật hơn. Ngoài ra, nếu người có ý thức liêm sỉ có một vài sở trường, ưu điểm hoặc ân tứ, thì một khi có đóng góp hoặc thu hoạch gì đó trong lúc làm bổn phận ở hội thánh, họ sẽ đứng trên góc độ lương tâm và lý trí để chia sẻ với người khác một cách rất bình thường. Mặc dù mọi người đều đã bị Sa-tan làm bại hoại, và khi người có ý thức liêm sỉ chia sẻ trải nghiệm, nhận thức và thu hoạch của mình thì thỉnh thoảng họ cũng phô trương sở trường và ưu điểm của bản thân, nhưng vì có ý thức liêm sỉ nên khi hành động, họ sẽ có sự ràng buộc và có chừng mực. Chừng mực này từ đâu mà có? Nó được nảy sinh từ lương tâm và lý trí. Mặc dù có lúc họ cũng phô trương bản thân, trong lòng cũng vô thức muốn được người khác coi trọng, nhưng vì có ý thức liêm sỉ và có sự ràng buộc của lý trí trong nhân tính, nên dù có phô trương bản thân, họ cũng sẽ không quá đáng, không buông thả và mất sự ràng buộc. Do đó, lời nói của họ tương đối khách quan và lý tính. Chẳng hạn, khi việc phô trương bản thân của họ sắp đến mức vượt qua ý thức liêm sỉ, thì họ sẽ biết kiềm chế và dừng lại, chứ không mặt dày vô sỉ và không chút kiêng dè mà khoe khoang, phô trương, tôn cao và làm chứng cho bản thân, hoặc giành lấy sự coi trọng, tán thưởng và ngưỡng vọng từ người khác theo kiểu không từ thủ đoạn nào và không biết xấu hổ. Cùng có sự bộc lộ và biểu hiện của tâm tính bại hoại như nhau, cùng có những ý nghĩ hoặc dục vọng do tâm tính bại hoại chi phối như nhau, nhưng người có ý thức liêm sỉ mà làm bổn phận thì sẽ hành động theo lương tâm và lý trí, hành động trên nền tảng là bảo vệ nhân cách và tôn nghiêm của mình. Ngay cả khi bộc lộ tâm tính bại hoại thì họ cũng có giới hạn. Nhưng người không có ý thức liêm sỉ thì bất kể trong tình huống nào, trong trường hợp nào, cũng nghĩ đủ mọi cách để phô trương và tôn cao bản thân. Họ ăn nói không kiêng dè, lời nào cũng nói được. Thậm chí chuyện tốt do người khác làm, họ cũng nói là do mình làm, hoặc họ nói về khuyết điểm và sai lầm của người khác để thể hiện mình cao hơn người khác, giỏi hơn người khác, rồi dựa trên việc chèn ép và hạ thấp người khác mà nói mình tốt thế nào, hơn người khác ra sao. Thậm chí có những người, hễ càng đông người thì dục vọng phô trương bản thân của họ càng mạnh, còn lúc ít người thì họ cảm thấy dục vọng của mình không có cách nào được thỏa mãn. Cho nên càng đông người, thì họ càng muốn phô trương bản thân, càng sẵn lòng biểu diễn, càng đông người thì họ càng trơ trẽn, càng không có ý thức liêm sỉ, mở miệng rồi là thao thao bất tuyệt, không kiểm soát nổi. Họ tìm mọi cơ hội để phô trương và khoe khoang bản thân, khoe rằng thân phận và địa vị của mình cao quý thế nào, bằng cấp cao đến đâu, kiến thức phong phú ra sao, từng có địa vị cao chừng nào trong xã hội, từng làm cấp lãnh đạo nào trong nhà Đức Chúa Trời, từng có những cống hiến nào, v.v.. Họ tìm mọi cơ hội để khoe những điểm hơn người của mình và phô trương rằng mình khác với người thường. Họ khoe mẽ mãi không thôi, hơn nữa càng nói càng hăng. Nếu bảo họ thông công nhận thức về lẽ thật hoặc trải nghiệm bước vào sự sống, thì họ nói khô khan vài câu là hết. Nhưng vừa nói đến chuyện khoe bản thân, chuyện họ khác với người thường thế nào, đã có những cống hiến gì, thì họ liền liến thoắng, thao thao bất tuyệt, nói mãi không thôi, hoàn toàn không biết liêm sỉ là gì. Sau khi nói hết những điều đó, không còn gì để nói nữa, họ lại kể rằng hồi nhỏ mình đánh lộn giỏi nhất, không ai đánh lại được họ, thậm chí họ từng đánh mù mắt một đứa trẻ khác, còn nói: “Người lớn đều bảo tôi là, ‘Đứa trẻ này không xoàng đâu, lớn lên nhất định sẽ không phải hạng người tầm thường!’”. Người nói ra những lời này chẳng phải là không biết liêm sỉ sao? Họ chẳng biết liêm sỉ. Đây chính là ba hoa khoác lác và phô trương bản thân. Người không biết liêm sỉ sẽ chộp lấy mọi cơ hội để phô trương và tôn cao bản thân, hơn nữa còn bất chấp mọi giá để làm vậy, bất kể người khác nhìn nhận thế nào, họ cũng không thấy xấu hổ chút gì. Còn người có ý thức liêm sỉ, mặc dù cũng phô trương bản thân và tôn cao bản thân, nhưng ngay cả khi chưa hiểu lẽ thật, chưa trải qua hình phạt và sự phán xét, thì khi làm những chuyện như vậy họ vẫn có chừng mực. Ít nhất lời nói của họ khách quan, chuyện gì không làm được thì họ sẽ không nói rằng mình làm được. Họ sẽ không ba hoa bốc phét, càng không quy chuyện tốt người khác làm về cho mình. Họ sẽ không nói những lời ăn không nói có hoặc bịa đặt sự thật. Tại sao? Tại vì họ không nói ra được những lời đó. Họ cảm thấy: “Không phải mình làm, tại sao lại nói là mình làm chứ?”. Lương tâm của họ sẽ cắn rứt. Hãy lấy một ví dụ. Nếu một người có lương tâm, lý trí và ý thức liêm sỉ mà khi đi học có thành tích không tốt, thì cho dù họ cũng muốn khoe rằng tố chất của mình tốt, không thua người bình thường, nhưng cùng lắm họ chỉ nói: “Tôi học hành chăm chỉ, cấp hai và cấp ba đều tự thi đỗ, không phải bỏ tiền chạy chọt, sau đó cũng cố gắng lắm mới thi đậu vào một trường cao đẳng”. Họ chỉ nói rằng “Tôi cũng từng học đại học”, chứ không hề khoác lác gì, như vậy không thể bị xem là phô trương bản thân, bởi vì điều họ nói là khách quan và đúng sự thật. Có thể họ tránh nói ra những chuyện khiến họ khó xử hoặc cảm thấy mất mặt, nhưng họ tuyệt đối sẽ không nói: “Tôi học rất giỏi, lúc nào cũng nằm trong tốp mười của lớp”. Họ sẽ không ngụy tạo sự thật, không ăn không nói có, không nói những chuyện không có thật. Tại sao họ không nói kiểu đó? Vì bên trong họ có lương tâm và có ý thức liêm sỉ. Có người nói: “Có phải vì bên cạnh có người biết rõ tình hình thực sự của họ không?”. Cho dù không có ai biết tình hình thực sự của họ thì họ cũng không nói ra được những lời đó, bởi vì họ có ý thức liêm sỉ và biết giữ thể diện. Họ cảm thấy ăn không nói có và ngụy tạo sự thật là chuyện quá mất mặt, chẳng có nhân cách và tôn nghiêm gì cả. Có người nói: “Người khác không biết tình hình thực sự của họ thì họ có thể bịa một chút, bịa đặt thì có sao đâu chứ?”. Nhưng họ vẫn không bịa đặt. Đây là vấn đề về bản tính con người, là chuyện về thuộc tính của người ta. Nếu ngươi là người có ý thức liêm sỉ thì chừng mực trong lời nói và hành động của ngươi sẽ mãi mãi nằm trong phạm vi có ý thức liêm sỉ, bản thân ngươi không vượt quá được, nếu thỉnh thoảng có vượt quá một bước thôi thì đó cũng là trong tình huống rất đặc biệt. Sau khi vượt quá, lương tâm ngươi sẽ bất an và cắn rứt, nội tâm ngươi sẽ khó chịu. Vì vậy, người có ý thức liêm sỉ dù có phô trương bản thân hay khoe khoang bản thân thì cũng có chừng mực và giới hạn. Họ tuyệt đối sẽ không vô liêm sỉ, mặt dày mày dạn mà nói lời rỗng tuếch, khoác lác để khoe khoang và phô trương bản thân. Họ cũng sẽ không ăn không nói có và bịa đặt sự thật, quy mọi chuyện tốt về mình. Họ tuyệt đối không phải dạng người như vậy. Nói đến ý thức liêm sỉ, thì ý thức liêm sỉ này thực sự có tác dụng nơi con người, chứ không phải là thứ sáo rỗng. Bởi vì là một đặc tính của nhân tính, nên ý thức liêm sỉ chính là thứ bẩm sinh trong con người, tuyệt đối không phải là tác dụng từ sự ràng buộc của những con người, sự việc hay sự vật bên ngoài. Những thứ bên ngoài không ràng buộc nổi tư tưởng và hành vi của ngươi đâu. Tư tưởng của con người, nhu cầu trong nội tâm con người cùng thực chất và thuộc tính của con người đều là những chuyện thuộc về bên trong. Ngay cả khi người có ý thức liêm sỉ muốn phô trương bản thân hay tôn cao và làm chứng cho bản thân để có được chút danh vọng giữa mọi người, nhưng vì có ý thức liêm sỉ nên khi làm những chuyện này họ vẫn có chừng mực và giới hạn. Nghĩa là trong lòng họ luôn có lương tâm không ngừng nhắc nhở họ rằng: “Làm như vậy là quá đáng, là không biết xấu hổ, đừng làm như vậy! Ngươi mà làm như vậy, sau này bị người ta vạch trần chuyện thật của ngươi thì mất mặt và mất tôn nghiêm biết bao! Làm người như vậy mà còn là người nữa sao?”. Luôn có những tư tưởng và quan điểm như vậy ràng buộc họ, cho nên, khi làm những chuyện này, họ có chừng mực. Ngươi xem cách người có ý thức liêm sỉ mặc áo quần đi, ngay cả khi họ thấy bộ đồ đó đẹp, nhưng nếu soi gương và phát hiện ra bộ đồ hơi mỏng, thì họ sẽ cảm thấy mặc như vậy ra ngoài không hay. Người khác nói: “Quần áo mỏng thì có gì phải sợ? Bây giờ ai cũng mặc như vậy. Chị mới lộ ra có chút mà đã ngại, người ta lộ nhiều hơn mà còn chẳng quan tâm”. Họ nói: “Không được, tôi không mặc bộ đó ra ngoài được”. Có đánh chết, họ cũng không mặc bộ đó ra ngoài. Tại sao? Tại vì chỉ riêng cửa ải ý thức liêm sỉ này họ đã không vượt qua được, ý thức liêm sỉ đang ràng buộc họ. Người có ý thức liêm sỉ, bất kể là trong chuyện đối nhân xử thế hay chuyện ăn mặc trang điểm, đều có chừng mực, còn người không có ý thức liêm sỉ thì khác. Cũng giống như chuyện có những người khi ở cùng anh chị em thì ăn mặc rất đúng mực, nhưng vừa về đến nhà là họ ăn mặc theo kiểu khác ngay, người ngoại đạo thích mặc gì thì họ mặc nấy. Thậm chí có người vừa về đến nhà là lập tức cởi bộ đồ mặc khi nhóm họp ra, nói rằng: “Tôi chẳng thích mặc bộ đồ này chút nào. Quá quê mùa, trông tôi như nhà quê chính hiệu. Ai thèm mặc bộ đồ như vậy chứ!”. Người thực sự có cảm giác hổ thẹn thì bất kể có ở cùng anh chị em hay không, cách ăn mặc của họ vẫn luôn đoan trang và đứng đắn. Cho dù không tin Đức Chúa Trời, họ cũng ăn mặc như vậy, chứ không quá đà.
Khi thông công và chia sẻ nhận thức trải nghiệm lúc nhóm họp, nếu một người có nhân cách và tôn nghiêm mà phô trương và đề cao bản thân, thì trong lòng họ sẽ cảm thấy xấu hổ, sẽ cảm thấy như có rất nhiều người đang nhìn mình. Cảm giác đó nhắc nhở họ rằng: “Nói như vậy thì không tốt đâu nhỉ? Làm như vậy thì không tốt đâu nhỉ?”. Khi đó, họ sẽ cảm thấy mất mặt. Nghĩa là bất kể họ nói gì, làm gì, nói đến mức nào, làm đến mức nào, thì ý thức liêm sỉ trong sâu thẳm nội tâm họ không ngừng nhắc nhở, ràng buộc và kiểm soát họ. Như vậy, ở một mức độ nào đó, những lời họ nói và những chuyện họ làm tương đối có tôn nghiêm và nhân cách. Ngay cả khi loại người này có tâm tính bại hoại, có một vài khiếm khuyết trong nhân tính về phương diện nào đó, hoặc chịu ảnh hưởng của một vài trào lưu tà ác, nhưng bởi thuộc tính bẩm sinh của mình, nên khi nghe được những lời Đức Chúa Trời vạch rõ và phán xét con người, họ vẫn có thể bất giác mà đối chiếu với bản thân: “Lời này của Đức Chúa Trời đang nói về mình. Mình có tình trạng này, có sự bộc lộ này, cũng có dạng biểu hiện này”. Họ sẽ có tình trạng và biểu hiện đối chiếu bản thân lời Đức Chúa Trời một cách có ý thức như vậy. Nói cách khác, khi nghe những lời Đức Chúa Trời vạch rõ và phán xét con người, thì người có ý thức liêm sỉ sẽ vô thức tiếp nhận và vô thức đối chiếu với bản thân. Họ sẽ dựa vào lời Đức Chúa Trời để phản tỉnh bản thân, thừa nhận mình có phương diện bại hoại này, có những sự sự bộc lộ và biểu hiện này. Trong sâu thẳm nội tâm, họ sẽ cảm thấy bất an: “Hóa ra mình cũng có sự bại hoại. Hóa ra mình là người có tâm tính kiêu ngạo mà lời Đức Chúa Trời vạch rõ. Mình cũng không phục và bất tuân, cũng chẳng phải người tốt gì. Sao mình lại bại hoại đến vậy chứ? Trước đây mình còn tưởng bản thân không tệ, tưởng mình là người tốt, có lương tâm, có lý trí, thích giúp đỡ người khác, cũng dễ cảm thông và thương xót người khác. Mình cứ tưởng sau khi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời thì mình sẽ trực tiếp được cất lên. Không ngờ mình cũng là một thành viên trong nhân loại bại hoại”. Chính vì có điều kiện cơ bản là có ý thức liêm sỉ nên họ sẽ tiếp nhận những tình hình thực sự của con người được vạch rõ trong lời Đức Chúa Trời một cách tự nhiên và bình thường, sau đó đối chiếu với bản thân để phản tỉnh và nhận biết bản thân. Như vậy, họ có được một cơ hội rất tốt để đối diện với lời Đức Chúa Trời một cách đúng đắn, có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời một cách thuận lợi, rồi từng chút một đạt đến sự thuận phục. Những điều này dựa trên cơ sở nào? Dựa trên cơ sở là họ có ý thức liêm sỉ. Do đó, họ có thể ý thức được rằng trên người mình tồn tại một vài sự bộc lộ bại hoại tà ác và đáng khinh, rồi dưới tác dụng của ý thức liêm sỉ, họ sẽ có thể chủ động vứt bỏ những chuyện mà họ cho là tiêu cực và đáng khinh đó. Khi nghe những câu nói, tình trạng, sự bộc lộ cụ thể, thậm chí là những sự kiện cụ thể trong lời Đức Chúa Trời vạch rõ tâm tính bại hoại của nhân loại, họ có thể nhận ra bản thân họ cũng có những tâm tính bại hoại này. Họ sẽ tiếp nhận rồi phản tỉnh và nhận biết bản thân. Sau đó, khi gặp lại những chuyện tương tự, nếu họ làm trái lời Đức Chúa Trời hoặc lại bộc lộ những tình trạng mà lời Đức Chúa Trời đã vạch rõ, thì ý thức liêm sỉ của họ vẫn sẽ nhắc nhở trong lòng họ rằng: “Ngươi làm như vậy chẳng phải là đang làm trái lời Đức Chúa Trời sao? Ngươi cũng chẳng phải là người tốt gì, chẳng phải là người thuận phục lời Đức Chúa Trời, chẳng phải là người yêu thích lẽ thật!”. Vì có ý thức liêm sỉ nên họ có thể tiếp nhận sự vạch rõ và phán xét của lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời sẽ có tác dụng ràng buộc đối với họ, có thể chỉnh đốn tư tưởng và quan điểm của họ. Ngươi thấy đấy, có phải ý thức liêm sỉ có tác dụng rất lớn không? (Thưa, phải.) Khi chưa hiểu lẽ thật, họ có một ranh giới đạo đức cơ bản. Khi đã hiểu các nguyên tắc lẽ thật hoặc hiểu được những chi tiết trong lời Đức Chúa Trời rồi, thì tiêu chuẩn ràng buộc của ý thức liêm sỉ không còn là ranh giới đạo đức của họ nữa, cũng không chỉ là ranh giới của lương tâm và lý trí họ nữa, thay vào đó, họ lấy các nguyên tắc lẽ thật làm ranh giới của mình. Vậy chẳng phải ranh giới này đã cao hơn ranh giới của lương tâm và lý trí sao? Chẳng phải tiêu chuẩn của ranh giới này đã được nâng cao hơn sao? (Thưa, phải.) Ban đầu, khi chưa hiểu lẽ thật, trong tư tưởng và quan điểm của người có ý thức liêm sỉ có một ranh giới đạo đức cơ bản. Sau khi hiểu lẽ thật, ranh giới đạo đức đó được nâng cao lên và từng bước gần lại với các nguyên tắc lẽ thật. Ngươi nói xem, chẳng phải loại người này đã có sự biến đổi rồi sao? Ta lấy một ví dụ thì các ngươi sẽ hiểu. Chẳng hạn ban đầu, khi qua lại với người khác, họ không chiếm lợi của người ta, không đánh người chửi người, không cố ý lừa người hại người, không lừa bịp người khác. Họ cho rằng làm như vậy là khá tốt rồi. Nhưng không đánh người chửi người và không lừa người hại người có phải là nguyên tắc lẽ thật trong cách đối đãi với người khác không? (Thưa, đây chỉ là biểu hiện tối thiểu của nhân tính, không phải nguyên tắc lẽ thật.) Đây chỉ là ranh giới đạo đức trong cách làm người của người có lương tâm và lý trí: cố hết sức để không đánh người chửi người, không lừa người hại người. Đó chỉ là không làm việc ác. Nhưng nguyên tắc lẽ thật thì cao hơn ranh giới đạo đức. Đối đãi với người khác theo nguyên tắc lẽ thật không còn chỉ là giữ vững ranh giới đạo đức nữa, mà nó cao hơn thế. Vậy lời Đức Chúa Trời yêu cầu thế nào về nguyên tắc đối đãi với người khác cao hơn ranh giới đạo đức này? (Thưa, là đối đãi với người khác một cách công bằng theo nguyên tắc.) Đúng vậy, đối đãi với người khác một cách công bằng, đây là nguyên tắc lẽ thật. Vậy nguyên tắc lẽ thật này có phải là ranh giới đạo đức không? (Thưa, không phải. Nguyên tắc này cao hơn ranh giới đạo đức.) Đây không còn là ranh giới đạo đức nữa, mà là nguyên tắc lẽ thật được xây dựng trên cơ sở ranh giới đạo đức, đồng thời cũng cao hơn ranh giới đạo đức. Đây là nguyên tắc thực sự để đối đãi với người khác. Không đánh người chửi người, không lừa người hại người, đây không phải là nguyên tắc lẽ thật, mà chỉ là những chuyện ở khía cạnh tiêu cực không được làm thôi. Nhưng ngươi không làm những chuyện đó không đồng nghĩa với ngươi đã có nguyên tắc trong cách đối đãi với người khác. Ngươi không đánh người chửi người không có nghĩa là nguyên tắc đối đãi với người khác của ngươi là đúng. Ngươi không đánh người chửi người, không lừa người hại người thì có đồng nghĩa với chuyện ngươi đối đãi họ một cách công bằng hay không? Đâu có đồng nghĩa, phải không? Nếu có người trước đây từng đắc tội với ngươi, hoặc bất hòa với ngươi, hoặc ngươi không thích họ, nhưng xét theo nhân tính và tố chất thì họ thích hợp làm lãnh đạo, vậy ngươi có bầu cho họ hay không? Nếu dùng nguyên tắc không đánh người chửi người, không lừa người hại người khác để đánh giá, thì ngươi sẽ làm thế nào? Ngươi sẽ không có con đường để đi. Là một con người bại hoại, khi chưa có nguyên tắc chính xác để đối đãi với người khác thì cùng lắm người ta chỉ nói rằng: “Tôi không đánh họ, không chửi họ, cũng không nói họ tốt hay xấu. Tôi không kéo chân họ, nên anh đâu thể nói tôi hãm hại họ được. Dù sao tôi không thích họ, nên tôi không bầu cho họ đâu”. Không bầu cho họ có phải là đối đãi với người khác một cách công bằng hay không? (Thưa, không phải.) Trên thực tế, nếu họ là ứng cử viên lãnh đạo thích hợp thì ngươi nên bầu cho họ, như vậy mới gọi là đối đãi với người khác một cách công bằng. Việc ngươi bầu cho họ không dựa trên nguyên tắc không đánh người chửi người, không lừa người hại người, mà dựa trên điều gì? Dựa trên nguyên tắc đối đãi với người khác một cách công bằng được yêu cầu trong lời Đức Chúa Trời, đây mới là nguyên tắc lẽ thật. Vì vậy, có người cho rằng, “Tôi không đánh người chửi người, cũng không lừa người hại người. Vậy chẳng phải tôi là người tốt rồi sao?” thì Ta nói rằng, “Ngươi không phải người tốt, cùng lắm chỉ có thể nói ngươi không tệ mà thôi”. Người tốt thực sự là người có thể thực hành theo các nguyên tắc lẽ thật. Nghĩa là trong chuyện đối đãi với người khác, ngoài việc không đánh người chửi người, không lừa người hại người, ngươi còn có thể đối đãi với họ một cách công bằng, như vậy ngươi mới là người tốt. Thông công như vậy, các ngươi đã rõ chưa? (Thưa, đã rõ.) Ranh giới đạo đức là một nguyên tắc cơ bản trong việc làm người của người có lương tâm và lý trí trong nhân tính. Mặc dù nguyên tắc làm người này phù hợp với lương tâm và lý trí trong nhân tính, nhưng nó không thể thay thế cho nguyên tắc lẽ thật, nó vẫn còn cách một khoảng so với nguyên tắc lẽ thật. Người có ranh giới đạo đức cùng lắm cũng chỉ là một người đạt tiêu chuẩn, nhưng chưa đến mức được gọi là người tốt. Chỉ những người có thể làm người và hành động theo nguyên tắc lẽ thật mới là người tốt. Ví dụ, khi đối đãi với người khác, người bình thường có thể làm được chuyện không đánh người chửi người, không lừa người hại người là đã không tệ rồi. Nhưng nguyên tắc đối đãi với người khác của một người tốt thì còn cao hơn thế: Họ có thể đối đãi với người khác một cách công bằng và theo nguyên tắc lẽ thật. Nghĩa là con người đích thực thì có ranh giới đạo đức và có ý thức liêm sỉ, có những điều kiện cơ bản để làm người. Vì thế, dạng người này có cơ hội đạt đến việc đối đãi với người khác một cách công bằng, làm người theo nguyên tắc lẽ thật và thực hành theo nguyên tắc lẽ thật. Có phải có sự khác biệt giữa ranh giới đạo đức và nguyên tắc lẽ thật không? (Thưa, phải.)
Nếu một người có ý thức liêm sỉ trong nhân tính, thì họ sẽ có nhân cách và có tôn nghiêm trong cách làm người và hành động. Ranh giới của họ chính là phải bảo vệ nhân cách và tôn nghiêm, không đánh mất nhân cách và tôn nghiêm. Theo cách nói thông thường, thì người này về cơ bản vẫn chưa đánh mất lương tâm, chỉn chu hành động, coi trọng nhân cách, coi trọng nhân phẩm và có tình người. Bất kể làm chuyện gì, cho dù liên quan đến lợi ích, địa vị hay tiền bạc, họ đều có ranh giới. Ranh giới này bảo vệ nhân cách và tôn nghiêm của họ, nghĩa là họ sẽ không vượt qua nhân cách và tôn nghiêm của mình để bất chấp thủ đoạn mà làm những chuyện không chấp nhận được về mặt đạo nghĩa hoặc luân lý nhân tính. Đây chính là có ý thức liêm sỉ. Ngoài ra, người có đặc tính của lương tâm và lý trí trong nhân tính cũng có cách nhìn, quan điểm và sự lựa chọn riêng đối với chuyện ăn uống chơi bời và các trào lưu tà ác khác nhau trong xã hội. Họ tuyệt đối sẽ không chạy theo các trào lưu tà ác để sống trong men say và ảo mộng, tùy ý buông thả và sa đọa. Đối với những chuyện trong nhân thế hoặc các trào lưu tà ác, họ có sự lựa chọn riêng của mình. Có lẽ lựa chọn này dựa trên sự chính trực và lương thiện của họ, cũng có khả năng là dựa trên ý thức liêm sỉ của họ, tùy vào từng chuyện. Bất kể các loại chuyện xuất hiện trên thế gian có thịnh hành đến đâu, được xã hội và đại chúng công nhận đến đâu, thì trong sâu thẳm nội tâm những người này vẫn có tư tưởng và quan điểm riêng về chúng, vẫn có chọn lựa đúng đắn của riêng họ. Trong lòng họ cho rằng: “Bất kể lúc nào, ngươi cũng không được đánh mất nhân tính. Bất kể lúc nào, ngươi vẫn là con người, không được làm những chuyện mà súc sinh làm, không được làm những chuyện mà ma quỷ làm, không được để mình ngang hàng với súc sinh và ma quỷ”. Cho nên, bất kể làm chuyện gì, họ cũng chịu sự ràng buộc của lương tâm và lý trí. Nói cụ thể thì, sự ràng buộc này chính là sự nhắc nhở và kiểm soát không ngừng của lương tâm và lý trí. Chẳng hạn như, cùng làm ăn buôn bán như nhau, người khác toàn lừa người bịp người, món đồ trị giá mười tệ có thể bán đến ba trăm hoặc năm trăm tệ, nhưng họ chỉ bán năm mươi tệ, kiếm chút tiền chỉ đủ gắng gượng duy trì cuộc sống. Thấy người khác thu được lợi nhuận kếch xù, còn mình cực khổ làm lụng bao nhiêu năm cũng chỉ đủ ăn, thì trong lòng họ luôn cảm thấy không cam tâm. Họ cũng muốn không từ thủ đoạn nào để kiếm tiền giống người ta. Nhưng rồi họ nghĩ: “Làm như vậy thì quá táng tận lương tâm, mình không làm được! Làm xong rồi nhỡ đâu bị người ta vạch trần thì sao? Làm vậy có phạm pháp không? Có phải ngồi tù không?”. Ngươi thấy đấy, họ suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, họ nghĩ tới nghĩ lui chuyện này rồi không ngừng cắn rứt trong lòng. Mặc dù họ bị các trào lưu tà ác khác nhau trên thế giới mê hoặc và ảnh hưởng, cũng muốn kiếm nhiều tiền để hưởng thụ đời sống vật chất cho tốt, nhưng suy đi nghĩ lại, cuối cùng họ vẫn không làm được những chuyện lừa lọc người khác. Có người nói: “Chẳng phải loại người này nhát gan sao?”. Trong số họ, một số người là nhát gan, nhưng có những người thì không, họ đơn giản là bị lương tâm và lý trí ràng buộc, cảm thấy không thể làm những chuyện lừa lọcđược. Cho dù thỉnh thoảng có làm, thì sau khi làm xong họ cũng hối hận, ngày nào cũng nơm nớp lo sợ có chuyện, sợ người ta tìm đến tận cửa. Họ nghĩ thầm: “Đồng tiền này kiếm được không vẻ vang gì. Nếu để người khác biết, liệu họ có chỉ trỏ sau lưng mình không? Sau này mình tuyệt đối không làm như vậy nữa. Tiền do chính mình lao động vất vả mà kiếm được thì tiêu mới thấy an tâm, ban đêm cũng không gặp ác mộng”. Sau một lần lừa gạt người khác như vậy, họ sẽ cảm thấy khó chịu trong suốt thời gian dài, ngủ không yên, ăn không ngon, trong lòng luôn cảm thấy bất an. Đương nhiên, trong xã hội cơ bản không tồn tại loại người này. Trong xã hội toàn là những kẻ thuộc loại ma quỷ hoặc thuộc loại động vật, những người này thì chẳng có cảm giác gì với những chuyện lừa lọc như vậy.
Ngay cả khi loại người có lương tâm và lý trí thường xuyên tiếp xúc với đủ loại chuyện ăn uống chơi bời, thì tác dụng của lương tâm và lý trí vẫn còn đó. Họ sẽ không thuận theo xác thịt, không thuận theo trào lưu tà ác mà hết lòng buông thả đủ loại dục vọng, thay vào đó, bất kể ăn uống hay hưởng thụ gì, họ đều có chừng mực. Họ cảm thấy: “Ăn ngon, mặc đẹp và hưởng thụ xác thịt có tốt đến đâu đi nữa cũng vẫn là hư không. Chẳng lẽ con người sống chỉ vì những thứ này sao?”. Trong lòng loại người này, sự hưởng thụ xác thịt và chuyện ăn uống chơi bời không thể thỏa mãn nhu cầu của thế giới nội tâm trong họ. Họ thầm nghĩ: “Người ta luôn mưu cầu hưởng thụ cho tốt. Hiện giờ mình đã hưởng thụ như vậy rồi, mà chẳng thấy hạnh phúc gì. Rốt cuộc hạnh phúc là gì? Sống thế nào mới có hạnh phúc thực sự? Ăn uống chơi bời, đủ loại hưởng thụ của xác thịt, mình đều hưởng qua rồi, con người sống chẳng phải chỉ có mấy chuyện này sao? Đời người là vậy sao? Nếu cả đời người chỉ sống như vậy, chỉ để mưu cầu việc ăn uống chơi bời, chỉ để mưu cầu sự hưởng thụ xác thịt, thì con người khác gì động vật chứ? Nếu con người giống động vật, cũng sống chỉ để ăn ngày ba bữa, chẳng hiểu đời người là gì, cũng chẳng được đủ đầy trong tư tưởng, thế giới tinh thần và tâm linh, cũng chẳng hiểu được nhiều chuyện về cuộc đời, cứ sống từ thế hệ này đến thế hệ khác như vậy thì có ý nghĩa gì chứ?”. Khi còn trẻ, người ta tràn đầy hiếu kỳ đối với thế giới. Có nhiều điều họ chưa biết và chưa từng thấy, có nhiều chuyện họ chưa từng trải nghiệm, và họ cảm thấy nếu đi bôn ba khắp thế gian thì có lẽ cả đời này sẽ rất hạnh phúc, rất đủ đầy, hoặc đời này họ sẽ sống rất đặc sắc và khác biệt. Nhưng khi thực sự bước vào xã hội và trải nghiệm rồi, họ mới thấy nhân loại hết thế hệ này đến thế hệ khác đều sống như vậy. Từ chỗ ngu muội và vô tri lúc còn trẻ, cho đến chuyện chịu nhiều đau khổ và có chút từng trải sau khi trải qua một vài chuyện trong xã hội, ai cũng đi theo con đường như thế. Ai cũng đi qua quá trình mưu cầu tiền đồ và danh lợi, chú trọng chuyện ăn uống chơi bời và hưởng thụ xác thịt. Đến tuổi xế chiều, tuy đã có chút từng trải, nhưng dường như họ chẳng thu hoạch được gì, cũng chẳng hiểu rốt cuộc đời người là gì. Con người cứ sống cả đời như thế, chẳng phải thật vô nghĩa sao? Người ta thường cảm thấy một sự trống rỗng khó tả. Nghĩa là khi trong lòng họ thực sự suy ngẫm về cuộc đời, cố nghĩ đến chút chuyện có ý nghĩa và giá trị, thì đầu óc lại hoàn toàn trống rỗng, trong lòng cũng thấy hoàn toàn trống trải. Họ không biết rốt cuộc là sao, cũng không biết tâm linh mình nên cần điều gì hay nên nương tựa nơi đâu. Họ cảm thấy bơ vơ trơ trọi, hoàn toàn rối bời, và thầm nghĩ: “Cả đời này mình cũng đã trải nghiệm không ít chuyện, đã nếm qua đủ loại gian nan và đau khổ, chẳng lẽ cuộc đời kết thúc như thế này sao?”. Khi họ nhìn vào những người lớn tuổi hơn thì thấy dường như những người đó cũng đã đi qua con đường như vậy. Thế là họ cảm thấy con người sống một đời như thế thì chẳng có ý nghĩa gì. Người ta luôn mưu cầu danh lợi, địa vị và sự hưởng thụ xác thịt. Khi chưa có được thì người ta một lòng muốn có, khi có được rồi thì nhất thời cảm thấy có chút vui vẻ, mừng rỡ, nhưng xét lâu dài thì họ cũng chẳng có gì là hạnh phúc. Họ bôn ba hơn nửa đời người rồi mà vẫn cảm thấy trống rỗng, chẳng có gì đáng để lưu luyến, luôn cảm giác như thể đang vung hai tay vào không khí với hy vọng nắm được thứ gì đó. Các ngươi nói xem, cảm giác này có tốt không? (Thưa, không tốt.) Vậy cảm giác này từ đâu mà có? (Thưa, vì những chuyện ăn uống chơi bời trong thế gian này không thể thỏa mãn nhu cầu nội tâm của con người.) Con người ai cũng nghĩ như vậy sao? Loại người nào sẽ nghĩ như vậy? (Thưa, người có lương tâm và lý trí sẽ nghĩ như vậy.) Ngươi nói xem, những người không có tư tưởng, không có tư duy lô-gic, và suy nghĩ đơn giản thì có nghĩ như vậy không? (Thưa, không.) Người suy nghĩ đơn giản chính là người không có lương tâm và lý trí, họ thuộc loại súc sinh. Họ không nghĩ đến những chuyện thuộc về nhân tính này, cũng không suy xét về đời người, tương lai hay con đường để đi. Họ không suy xét những chuyện đó. Chỉ cần có ăn có uống là họ thỏa mãn rồi, họ sống ngày nào hay ngày đó, sống ngày nào vui ngày đó, hưởng thụ được ngày nào hay ngày đó. Họ không suy xét những chuyện liên quan đến đời người này. Vậy những chuyện này có liên quan gì đến lương tâm và lý trí của nhân tính? Nếu một người có lương tâm và lý trí thì họ sẽ có lý tính trong hành động. Có lý tính là điều rất quan trọng đối với con người. Người có lý tính thì thường không sống theo cảm tính mà sống một cách lý tính, họ sống lý tính trong giây phút hiện tại. Họ sẽ suy xét: “Cả đời này rốt cuộc mình có thu hoạch được gì không? Đời này mình sống có đáng giá không? Mình đã làm được chuyện gì có ý nghĩa và giá trị chưa? Những thứ mình mưu cầu có phải là điều mà nội tâm mình cần không? Nhu cầu của nội tâm mình đã được thỏa mãn chưa? Chưa được thỏa mãn, mình vẫn cảm thấy rất trống rỗng. Không có bất kỳ thứ vật chất nào, cũng không có tình thân hay tình bạn nào có thể khiến sâu thẳm nội tâm mình được thỏa mãn. Những thứ đó đều không phải là nhu cầu của nhân tính”. Họ sẽ nghĩ về những chuyện này một cách lý tính. Nghĩa là, càng trưởng thành, họ càng nhìn nhận những chuyện đó một cách lý tính hơn, và càng không tìm được đáp án thì họ càng đau khổ. Khi chưa trải nghiệm những chuyện này, người ta sẽ ở trong phạm vi lý trí mà phán đoán hoặc tưởng tượng một số chuyện theo kiểu có kế hoạch hoặc theo lý tính bình thường. Nhưng khi đã đi qua toàn bộ quá trình của mọi chuyện này rồi, lúc nhìn lại, người ta càng trở nên lý tính hơn. Họ sẽ nhìn nhận một cách lý tính những chuyện mình từng trải nghiệm và thể nghiệm, rồi thấy rằng chúng đều là hư không, chẳng có một chuyện nào có ý nghĩa. Tại sao lại nói như vậy? Bởi vì mọi chuyện con người làm đều là vì cái ăn cái mặc, đều là để duy trì ba bữa một ngày cho xác thịt, để bảo vệ sự hưởng thụ của xác thịt. Họ tranh danh đoạt lợi, người tranh ta đoạt. Nếu cả đời chỉ sống vì những chuyện đó, thì người ta sống chẳng khác gì động vật. Vậy thì con người cũng chẳng cao cấp hơn động vật bao nhiêu, sống như vậy thì chẳng có giá trị gì. Người có lý trí của nhân tính sẽ suy xét những chuyện này trong lòng. Do đó, khi đến một độ tuổi nhất định, những mô thức sống, những quy tắc trò chơi và phương thức xử sự cứ lặp đi lặp lại này sẽ khiến họ cảm thấy mệt mỏi, chán ghét, phản cảm và ngán ngẩm. Cuối cùng, họ sẽ nảy sinh một dạng cảm giác trống rỗng, cảm thấy họ đã hưởng thụ và trải nghiệm qua những thứ đó rồi mà chẳng thu hoạch được gì, chẳng đạt được thứ gì đem lại lợi ích thiết thực để thực sự thỏa mãn nhu cầu của nhân tính. Trong hoàn cảnh đó, người có lương tâm và lý trí sẽ khám phá, tìm kiếm và mò mẫm sâu hơn: Rốt cuộc thế nào mới là cuộc đời đích thực? Rốt cuộc nên sống cuộc đời như thế nào mới tốt? Một số người thông minh sẽ bắt đầu tìm kiếm con đường nhân sinh, tìm kiếm tín ngưỡng, tôn giáo. Trong bối cảnh như vậy, một số người sẽ đến với nhà Đức Chúa Trời. Họ phát hiện rằng chỉ có lời Đức Chúa Trời, chỉ có lẽ thật, con đường và sự sống mà Đức Chúa Trời cung ứng cho nhân loại mới có thể thỏa mãn nhu cầu của họ. Khi họ khám phá giá trị và ý nghĩa của cuộc đời, chỉ có lời Đức Chúa Trời mới có thể cho họ câu trả lời. Từ đó họ mới nảy sinh lòng khao khát đối với lời Đức Chúa Trời, sau đó mới có thể tiếp nhận, mới có thể tiến thêm một bước mà thuận phục lời Đức Chúa Trời. Sự khao khát, tiếp nhận và thuận phục của họ đối với lời Đức Chúa Trời đều được xây dựng trên cơ sở là những sự từng trải của họ trong đời, đều nảy sinh từ những suy ngẫm của họ về một vài chuyện họ đã trải nghiệm trong đời.
Các ngươi có cảm thấy nội dung vừa mới thông công trừu tượng không? Các ngươi có thể hiểu được không? (Thưa, không trừu tượng, chúng con có thể hiểu được.) Những nội dung này không trừu tượng, cũng không sáo rỗng, đều là những điều mà người ta có thể nhìn thấy và tiếp xúc trong đời sống thực tế. Nếu có người cho rằng việc thông công về lương tâm và lý trí của nhân tính là tách rời cuộc sống thực tế, cảm thấy những nội dung này rất sáo rỗng và trừu tượng, giống như là chuyện xảy ra ở một thế giới khác và cách con người quá xa, thì người đó có vấn đề rồi, phải vậy không? Ngươi không hiểu chuyện làm người, khi làm người thì ngươi không có lương tâm và lý trí, vậy rốt cuộc ngươi là ma quỷ hay là động vật? Chuyện này khó nói lắm, nhưng đằng nào ngươi cũng không phải là con người. Người có lương tâm và lý trí thì có thể cảm nhận những tư tưởng hoặc biểu hiện liên quan đến lương tâm và lý trí của nhân tính, cũng có thể liên hệ chúng với bản thân. Nếu ai không liên hệ được những tư tưởng hoặc biểu hiện tích cực này với bản thân, mà lại có thể liên hệ những điều tiêu cực với bản thân, thì nó cho thấy bên trong người đó không có lương tâm và lý trí. Thậm chí đối với những tư tưởng, quan điểm và cách làm người liên quan đến lương tâm và lý trí của nhân tính, có một số người không có lương tâm và lý trí còn thấy rất phản cảm, rất khinh thường, chán ghét hoặc xem thường. Dạng người như vậy chính là người không có đặc tính của nhân tính. Người không có đặc tính của nhân tính sẽ thấy rất phản cảm đối với những biểu hiện của lương tâm và lý trí trong nhân tính. Hơn nữa, họ cũng không cảm nhận được những tư tưởng và hành vi cụ thể cùng nguyên tắc thực hành khác nhau được biểu hiện bởi nhân tính của người có lương tâm và lý trí. Bởi vì không phải là đồng loại, cho nên họ không cảm nhận được. Các ngươi nói xem, động vật có thể hiểu được con người hành động theo nguyên tắc gì và tại sao lại làm như vậy không? (Thưa, không thể.) Động vật không biết được. Vậy động vật biết gì? Chúng chỉ biết đến lúc nào thì làm chuyện gì, chỉ biết những chuyện cố định: đến giờ nào thì ăn, chơi trong bao lâu, bình thường được chủ dẫn đi đâu. Còn chuyện vì sao chủ dẫn đi hay không dẫn đi thì chúng không biết. Chúng cũng không biết vì sao lượng thức ăn trong mùa đông và mùa hè lại khác nhau. Mỗi một chuyện chủ làm với chúng có dụng ý gì, chúng đều không biết. Chúng chỉ biết: “Đằng nào chủ cũng đối xử tốt với mình, mỗi ngày cho mình đồ ăn ngon, còn ở bên cạnh và bảo vệ mình. Người đó đối xử tốt với mình thì là chủ của mình. Người khác không cho mình ăn, cũng không đối xử tốt với mình, thì không phải là chủ của mình, mình cũng không thân thiết với họ”. Động vật chỉ biết những chuyện đơn giản đó. Tương tự như vậy, đối với những chuyện liên quan đến nhân tính, việc làm người, tư tưởng và quan điểm, thì loại người là động vật sẽ không bao giờ hiểu được hoặc với tới được, ngươi có dạy thì cũng chỉ dạy được đạo lý cho họ. Nhưng hiểu đạo lý đâu có phải là thực sự hiểu, họ không hiểu hàm nghĩa bên trong, cũng không hiểu giá trị bên trong những gì ngươi dạy họ. Vì thế, khi nói về những chuyện liên quan đến lương tâm và lý trí của nhân tính thì loại người là động vật không hiểu nổi. Ma quỷ thì có thể hiểu được những chuyện này về mặt đạo lý, nhưng lại không tiếp nhận. Họ thấy phản cảm và chán ghét những câu nói này, cho rằng ngươi đang nói chuyện trên trời, nói những câu nói tách rời đời sống thực tế của nhân loại. Bất kể họ không tiếp nhận hay là không hiểu được, tóm lại, Ta không nói những lời liên quan đến chuyện làm người này cho những người thuộc loại ma quỷ hoặc động vật nghe. Họ sẵn lòng tiếp nhận như đạo lý thì cũng được, họ không sẵn lòng tiếp nhận thì Ta cũng không có ý kiến. Con người được phân theo loại của mình, cưỡng cầu cũng không được. Ngươi thuộc loại nào thì ngươi thích những thứ thuộc loại đó. Ngươi không có nhân tính và không thuộc về nhân loại, thì ngươi sẽ không hiểu được những lời liên quan đến lẽ thật, cũng không sẵn lòng đi con đường mà con người nên đi. Chỉ có loại người nào có thuộc tính của con người mới sẵn lòng nghe những chủ đề liên quan đến việc làm người và lẽ thật. Nếu có người không sẵn lòng nghe và nghe không lọt tai, thì có thể không nghe. Loại người này không có thuộc tính của con người, lẽ thật không phải để nói cho họ nghe.
Vừa rồi chúng ta có nhắc đến chuyện khi đã trải nghiệm và thấy những nhu cầu ăn uống chơi bời của xác thịt trong cuộc đời nhiều rồi, thì người có lương tâm và lý trí trong nhân tính sẽ không ngừng suy ngẫm về chúng. Càng trải nghiệm những chuyện ăn uống chơi bời và hưởng thụ xác thịt trong cuộc đời, thì nội tâm họ càng cảm thấy vô nghĩa và trống rỗng. Ngay cả khi không bỏ được lối sống này, họ cũng chẳng thấy niềm vui trong đó mà chỉ cảm thấy bất lực. Trạng thái này lại càng thôi thúc họ tìm kiếm và hiểu những câu hỏi như ý nghĩa cuộc đời là gì và con người sống vì điều gì. Vì vậy, khi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời và có được đáp án cho những câu hỏi này, họ cảm thấy tâm linh được thỏa mãn vô cùng, cảm thấy đây mới chính là con đường đúng đắn trong đời người. Khi những người này tiếp nhận sự cung ứng lẽ thật từ lời Đức Chúa Trời, họ cảm thấy những điều tích cực khác nhau và các loại yêu cầu đối với con người được đề cập trong lời Đức Chúa Trời vừa hay lại thỏa mãn được, hoặc phù hợp với nhu cầu trong nhân tính của họ ở một mức độ nào đó. Cho nên, họ rất cam tâm tình nguyện tiếp nhận lời Đức Chúa Trời và những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người. Họ cho rằng đây mới là con đường mà con người nên đi, mới là nguyên tắc làm người mà con người nên có. Chính vì họ có nhu cầu như vậy, có những suy ngẫm như vậy, nên lời Đức Chúa Trời mới trở thành sự cung ứng cho họ, mới có thể trở thành sự giúp đỡ kịp thời cho họ. Khi tiếp nhận sự cung ứng từ lời Đức Chúa Trời, họ sẽ có ý nguyện và ý chí làm thỏa lòng Đức Chúa Trời, đạt đến việc làm một con người chân chính theo yêu cầu của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như, những người công chính được Đức Chúa Trời nhắc đến là Nô-ê, Áp-ra-ham, Gióp và Phi-e-rơ, những câu chuyện về việc họ thuận phục Đức Chúa Trời và tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời là điều mà loại người này đặc biệt khao khát và ngưỡng mộ trong nội tâm. Họ hy vọng một ngày nào đó mình cũng có thể thực sự và tuyệt đối thuận phục Đức Chúa Trời giống những người như Nô-ê và Áp-ra-ham, cũng mong đợi đến ngày nào đó mình có thể được Đức Chúa Trời khen ngợi và được Đức Chúa Trời gọi là người công chính. Họ khao khát làm người tốt, làm người công chính. Những câu chuyện về những người công chính mà Đức Chúa Trời kể đã khiến họ vô cùng cảm động. Trong lòng họ thường xuyên được cảm động và khích lệ bởi những câu chuyện này, cũng như bởi thái độ của những người này đối với Đức Chúa Trời. Bởi vì có phẩm chất của lương tâm và lý trí trong nhân tính, nên họ có thể lấy những nhân vật được nhắc đến trong lời Đức Chúa Trời làm hình mẫu và tấm gương để noi theo, đây cũng là một dấu hiệu cho thấy họ có lương tâm và lý trí. Đương nhiên, biểu hiện này cũng là một trong những điều kiện cơ bản để con người có thể tiếp nhận và thuận phục lời Đức Chúa Trời, có thể được làm tinh sạch và được cứu rỗi. Ít nhất, trong quá trình trải nghiệm cuộc đời, xét từ những biểu hiện và sự bộc lộ của họ khi trải nghiệm những chuyện trong đời, thì họ không phải là người tê dại, không phải là người không có tư tưởng, cũng không phải là người không có cách nhìn riêng về cuộc sống, hiện thực hoặc những chuyện ăn uống chơi bời. Họ có cách nhìn, có quan điểm của riêng mình, hơn nữa còn có những tư tưởng và quan điểm tích cực. Nghĩa là, họ không hề tê dại và vô cảm đối với các loại chuyện trong cuộc đời, mà họ có suy nghĩ về chúng. Nhất là sau khi trải nghiệm đủ loại gian truân, vấp ngã và thất bại, cũng đã nếm trải đủ vị cay đắng ngọt bùi của cuộc đời, họ càng cảm thấy rằng nếu cứ tiếp tục sống như vậy thì đời người là hư không và vô giá trị, nếu chỉ đi qua nhân thế này một chuyến và làm người như vậy, thì chẳng có giá trị hay ý nghĩa gì, làm người theo kiểu như vậy thì đến cuối cùng cũng chẳng đạt được gì. Họ sẽ cảm thấy không cam lòng, cũng cảm thấy không tưởng tượng nổi: “Chẳng lẽ con người cứ sống như thế sao? Một đời cứ trôi qua như thế này sao? Hết thế hệ này đến thế hệ khác đều sống như vậy thì có ý nghĩa gì chứ?”. Ngươi thấy đấy, mặc dù cuối cùng họ vẫn chưa có được kết luận về chuyện con người nên sống như thế nào, nhưng ít ra họ có suy nghĩ về chuyện đó. Họ không phải là người chìm đắm trong chuyện ăn uống chơi bời, hưởng thụ sự an nhàn xác thịt, tận hưởng tình thân hay niềm vui gia đình, mơ mơ hồ hồ mà sống qua ngày. Thái độ của họ đối với cuộc đời tuyệt đối không phải là tạm bợ cho qua ngày, bởi vì dưới sự chi phối của lý trí, họ thường xuyên suy ngẫm. Những chuyện ăn uống chơi bời và hưởng thụ xác thịt tuyệt đối không thỏa mãn được nhu cầu của tâm linh họ. Trong hoàn cảnh như vậy, họ sẽ đi tìm những điều có thể thỏa mãn nhu cầu của tâm linh mình. Cuối cùng, chỉ có lời Đức Chúa Trời và công tác của Đức Chúa Trời mới có thể đem lại đáp án cho những câu hỏi về cuộc đời mà họ suy ngẫm, mới có thể thỏa mãn nhu cầu trong tâm linh họ.
Nếu người ta cứ sống như vậy ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, chưa từng suy xét xem con người nên đi con đường nào hoặc nên sống như thế nào; nếu sau khi trải nghiệm những vấp ngã, thất bại, trắc trở và hoạn nạn, đã nếm trải những cay đắng ngọt bùi của cuộc đời mà họ vẫn không có suy ngẫm nào về chúng, cũng không có bất kỳ quan điểm nào về cuộc đời hay chuyện làm người, vẫn tiếp tục mưu cầu danh lợi và địa vị, mưu cầu sự hưởng thụ, thậm chí còn đặc biệt say mê lao mình vào các trào lưu tà ác khác nhau – và họ chẳng có tri giác, chẳng thấy khó chịu hay đau khổ gì, chẳng cảm thấy sống như vậy thật trống rỗng – thì chắc chắn loại người này không phải là người. Nếu là người, khi đã sống đến một độ tuổi nhất định, người ta sẽ suy nghĩ những câu hỏi về cuộc đời này. Có người mới ngoài hai mươi tuổi thì đã bắt đầu nghiền ngẫm những chuyện về cuộc đời: “Ông bà mình sống như vậy, cha mẹ mình cũng sống như vậy. Đến đời mình có phải cũng sẽ sống như họ không? Đến độ tuổi nhất định thì kết hôn và sinh con, đời này cứ vậy trôi qua sao? Chẳng lẽ con người sống chỉ để nuôi dạy con cái và duy trì nòi giống thôi sao? Nếu cả đời chỉ sống như vậy thì thật chẳng có ý nghĩa gì. Thế hệ này qua thế hệ khác đều sống như vậy chẳng phải vẫn trống rỗng sao?”. Trong lòng họ mơ hồ cảm thấy tương lai thật trống rỗng và mông lung. Họ cảm thấy: “Nếu cả đời này chỉ mưu cầu ăn ngon mặc đẹp, hưởng thụ xác thịt cho tốt, rồi nuôi dạy con cái, để con cái phụng dưỡng mình lúc tuổi già và lo hậu sự cho mình, tận hưởng những tháng năm cuối đời, nếu cứ sống vì mục tiêu đó thì cuộc đời con người vô vị quá!”. Chưa chính thức bắt đầu trải nghiệm cuộc đời mà họ đã nhìn thấy con đường phía trước tối tăm, u ám và không có ánh sáng, đã nhìn thấy mỗi một giai đoạn được sắp đặt sẵn của đời người. Trong lòng họ mơ hồ cảm thấy sống như thế chẳng có ý nghĩa gì, chẳng có mục tiêu gì! Có người đến hai mươi tuổi là nghĩ đến chuyện lập gia đình, gây dựng sự nghiệp, sống những ngày tháng tốt đẹp, và giúp cha mẹ hưởng thụ cuộc sống tốt đẹp. Một số người thì luôn có dã tâm, luôn muốn phát tài lớn hoặc làm quan để trở thành người ở trên người khác và làm rạng danh tiên tổ. Bất kể là chịu ảnh hưởng từ cha mẹ hay từ xã hội, tóm lại họ không biết suy ngẫm về cuộc đời. Họ xác định rằng đời người chỉ là ăn ngon mặc đẹp và có cuộc sống tốt, ngoài ra họ chẳng suy ngẫm gì khác. Có người phải trải nghiệm rất nhiều sóng gió mới thấy rõ được xã hội này, thấy nhân loại này không tốt như người ta tưởng tượng, rồi họ mới bắt đầu suy nghĩ xem sống thế nào thì mới có giá trị và ý nghĩa, không sống uổng một đời. Dạng người như vậy là thiểu số rất nhỏ giữa mọi người. Tóm lại, hễ là người suy ngẫm về giá trị đời người và nhận ra rằng con người sống thì phải làm được chút việc thực tế, thì đều là những người có lương tâm và lý trí. Việc họ có thể suy ngẫm những chuyện này cho thấy giá trị quan của họ khác với người khác. Giá trị quan của họ không phải là ăn ngon và hưởng thụ những thứ tốt đẹp, một đời lên như diều gặp gió, có thể nên người xuất chúng và có tiền đồ tốt đẹp là xong. Người có tiền đồ tốt đẹp thì rất nhiều, như những quan lớn kia chẳng hạn, họ có kết cục gì tốt chứ? Họ sống có vui vẻ không? Quan sát kỹ cuộc sống phía sau vẻ bề ngoài đó, thì thấy họ cũng chẳng vui vẻ gì. Điều này khiến ngươi cảm thấy rằng nếu mình cũng mưu cầu địa vị và tiền đồ thì mình sẽ chẳng có niềm vui, giống như họ thôi. Người có tư tưởng của nhân tính bình thường sẽ ngẫm nghĩ: “Những quan lớn đó đều không vui vẻ, chứng tỏ con đường họ đi là sai. Vậy con người nên đi con đường nào thì mới là đúng đắn, mới có thể khiến tâm linh thực sự được an ủi đây?”. Tâm linh con người cần có thứ gì đó để được an ủi. Nguồn an ủi này không phải là tiền bạc, biệt thự, xe sang hay những sự hưởng thụ vật chất khác, cũng không phải một tri kỷ có thể cùng ngươi đồng cam cộng khổ, càng không phải một cuộc hôn nhân mỹ mãn hay con cái hiếu thuận. Những thứ đó đều không thể thực sự an ủi tâm linh con người. Điều thực sự có thể an ủi tâm linh con người là những gì mà tâm linh họ cần. Họ cần đạt được một vài đáp án, nghĩa là có một vài chuyện mà họ luôn muốn hiểu rõ trong quá trình cuộc đời: Con người từ đâu mà đến? Khi nào sẽ chết? Cái chết do ai nắm giữ? Đời này có số phận hay không? Số phận do ai quản lý? Nếu số phận của người ta do cha mẹ quản lý, vậy số phận của cha mẹ do ai quản lý? Cha mẹ còn không quản lý được số phận của mình, vậy họ có thể quản lý số phận của con cái sao? Còn nữa, con người nên làm người như thế nào? Làm người như thế nào thì đời người ta mới đáng giá, mới không uổng một đời? Nếu con người có linh hồn, vậy sau khi chết, linh hồn có chốn để về hay không? Nếu linh hồn có chốn để về thì chuyện đó có liên quan đến đời này không? Đời này làm gì thì sau khi chết linh hồn mới có chốn tốt đẹp để về? Làm thế nào mới có thể tránh được hoặc thay đổi được chốn để về không tốt? Đây đều là những câu hỏi mà con người nên suy nghĩ. Khi con người suy nghĩ những câu hỏi này mà không tìm được đáp án thì nội tâm họ có đau khổ không? (Thưa, có.) Càng không tìm được đáp án thì nội tâm họ càng đau khổ, càng không còn tâm tư để hưởng thụ cuộc đời, tình thân hay tình yêu, bởi vì bất kể ngươi có hưởng thụ những điều đó thế nào đi nữa thì chúng cũng chỉ có thể lấp tạm sự trống rỗng trong lòng ngươi. Khi hưởng thụ xong những thứ đó rồi, sâu thẳm nội tâm ngươi sẽ càng cảm thấy trống rỗng hơn, bởi vì những thứ ngươi nhất thời có được hoặc hưởng thụ được này chỉ làm tê liệt tâm hồn ngươi và thỏa mãn nhu cầu nhất thời của ngươi mà thôi, chứ không thể giúp ngươi có được đáp án cho những câu hỏi mà ngươi suy ngẫm. Cuối cùng, bất kể ngươi có bao nhiêu tiền bạc, hưởng thụ cuộc sống vật chất tốt đến đâu, quanh mình có bao nhiêu con cái hiếu thuận phụng dưỡng, thì chúng đều không thể giải đáp những nghi vấn trong sâu thẳm tâm hồn ngươi, đều không thể giúp ngươi tìm được đáp án ngươi muốn. Nghĩa là, những gì ngươi đã hưởng thụ và đạt được trong đời này không thể nói cho ngươi biết tương lai của ngươi sẽ ra sao, sau khi đời này kết thúc thì ngươi sẽ đi đâu, sẽ bị trừng phạt hay được ban thưởng. Không ai có thể cho ngươi đáp án chính xác cho những câu hỏi này, và ngươi cũng không tìm được đáp án chính xác trong bất kỳ sách vở hay tài liệu nào. Nếu khi suy nghĩ về những điều này, ngươi có thể mơ hồ cảm nhận được rằng đời người là hư không – hưởng thụ tình thân cũng là hư không, hưởng thụ tình yêu, hôn nhân và gia đình cũng là hư không, hưởng thụ sự hiếu thuận của con cái cũng là hư không, hưởng thụ bất kỳ chuyện ăn uống chơi bời nào cũng là hư không – càng hưởng thụ và đạt được những thứ này thì cảm giác hư không càng nhiều, càng nặng nề hơn – khi đó ngươi càng cảm thấy để được an ủi thì tâm linh mình cần một điều gì khác ngoài những thứ đó. Ngươi càng thấy thôi thúc phải tìm kiếm những điều có thể an ủi tâm hồn mình, tìm kiếm đáp án cho cuộc đời và tìm kiếm con đường cho cuộc đời. Khi không đạt được những điều đó, người ta sẽ có thái độ bất lực và qua loa chiếu lệ đối với mọi sự trên đời: “Mình cứ sống vậy thôi, đằng nào người ta sống một đời cũng đều như vậy”. Bất kể có được hay hưởng thụ được những điều tốt đẹp đến đâu đi nữa, thì người có lương tâm và lý trí đều xem chúng là hư không. Họ không giống những người thuộc loại súc sinh, ăn bao nhiêu cũng không đủ, hưởng thụ bao nhiêu cũng không thấy thỏa mãn, còn cho rằng: “Một đời người được hưởng thụ như thế này mới tốt. Đời này có gì cũng được, đừng có bệnh, thiếu gì cũng được, đừng thiếu tiền”. Đây là lô-gic của loại người do động vật đầu thai. Câu “có gì cũng được, đừng có bệnh, thiếu gì cũng được, đừng thiếu tiền” chính là triết lý nhân sinh mà họ tổng kết sau khi trải nghiệm cuộc đời. Còn người có lương tâm và lý trí mà nghe câu đó thì sẽ nghĩ: “Không có tiền quả thật không tốt, lúc cần tiền mà không có thì khó khăn thật. Nhưng có tiền thì giải quyết được vấn đề trống rỗng sao? Hoàn toàn không giải quyết được. Nhiều tiền rồi cũng phiền phức, lúc nào cũng có người nhòm ngó, không biết để ở đâu mới an toàn, gửi ngân hàng cũng thấy không yên tâm, đầu tư cũng thấy không chắc chắn, mà tiêu thì cũng không hết. Nếu dùng tiền để hưởng thụ những chuyện ăn uống chơi bời, ở biệt thự, đi xe sang, hưởng thụ sự nịnh bợ, ngưỡng mộ và xem trọng của người khác, đi đâu cũng có người đi theo và vây quanh như một đám ruồi xanh lúc nào cũng bám lấy mình không rời nửa bước, thì hưởng thụ những điều đó lâu ngày rồi, trong lòng cũng sẽ thấy chán ngán, chỉ muốn tìm một nơi yên tĩnh để tĩnh tâm một thời gian. Dù có đi du lịch khắp các nước trên thế giới và mở mang tầm mắt, thì đến khi lắng lòng, vẫn cảm thấy sống như vậy chẳng có ý nghĩa gì, càng cảm thấy trống rỗng hơn”. Thực ra, khi con người cảm thấy hết thảy mọi sự đều trống rỗng, thì đó là lúc họ cần được an ủi trong tâm linh. Nghĩa là khi con người sống đến một độ tuổi nhất định và đi đến một giai đoạn nhất định trên con đường cuộc đời, họ sẽ có rất nhiều câu hỏi và sự bối rối về cuộc đời mà họ cần tìm ra đáp án và giải quyết. Nếu những câu hỏi này không được giải quyết, con người chỉ có thể sống như xác chết biết đi, miễn cưỡng ứng phó với từng chuyện, có quan điểm đặc biệt tiêu cực và bị động đối với mọi chuyện, không còn tích cực lắm nữa. Đây là một vài cảm nhận của người có lương tâm và lý trí trong nhân tính về cuộc sống.
Ngoài việc có một số cảm nhận về cuộc sống thì khi sống đến một độ tuổi nhất định, loại người có lương tâm và lý trí này sẽ ngộ ra đôi điều về đời người và sẽ suy ngẫm về đủ loại câu hỏi. Bởi vì họ có lương tâm, hay nói chính xác hơn là bởi vì họ có tâm có linh, cho nên dưới tác dụng không ngừng của lương tâm và lý trí, họ sẽ suy ngẫm về đủ loại câu hỏi ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời: Nên đối đãi với đủ loại người như thế nào? Nên đối đãi với cha mẹ, con cái như thế nào? Rốt cuộc đời người là sao? Rốt cuộc những chuyện ăn uống, hưởng thụ, danh lợi, địa vị, tiền đồ trong cuộc đời là sao? Sau khi trải nghiệm các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời, thì ngay cả khi không hiểu lẽ thật, họ cũng sẽ tổng kết được đôi điều về cuộc đời. Bởi vì có suy ngẫm, nên sẽ họ có điều mà họ tổng kết được. Những điều tổng kết được này có lẽ khách quan, cũng có lẽ chỉ là một vài điều mà cá nhân người ta ngộ ra thôi. Nhưng ít ra trong quá trình trải nghiệm cuộc đời, người có lương tâm và lý trí đã trải qua một số chuyện, đến khi có sự từng trải nhất định, họ sẽ cảm thấy: “Rất nhiều chuyện trong cuộc đời không phải mình muốn thế nào thì được thế ấy, rất nhiều chuyện không do mình quyết định. Dường như trong cõi u minh, có sự an bài của Trời”. Đây là điều mà họ ngộ ra thông qua việc tổng kết những trải nghiệm cuộc đời, cũng là một trong những thu hoạch của họ. Xét từ góc độ nhân tính, dạng thu hoạch này là một dạng suy ngẫm rất tích cực và rất tự nhiên có được dưới tác dụng của lương tâm và lý trí. Tại sao họ lại có dạng suy ngẫm này? Bởi vì trong quá trình trải nghiệm cuộc đời, có rất nhiều chuyện như ý hoặc không như ý, hài lòng hoặc không hài lòng. Trong quá trình trải nghiệm những chuyện này, họ sẽ không ngừng tổng kết và cuối cùng đi đến một kết luận: Con người có số phận. Bất kể đời này người ta được thuận lợi và như ý hay là trắc trở và không như ý, bất kể là gian khổ hay hạnh phúc, thì thực sự có tồn tại số phận. Trên cơ sở đó, họ sẽ suy ngẫm một số câu hỏi: “Con người có số phận, chuyện này chắc chắn rồi. Vậy số phận của con người có phải do bản thân họ lựa chọn không? Có phải do cha mẹ tạo nên không? Hình như không phải. Nếu số phận của con cái do cha mẹ tạo nên và quyết định, thì chẳng có bậc cha mẹ nào không mong con mình lên như diều gặp gió, nên người xuất chúng và cả đời hạnh phúc như ý. Nhưng tại sao đời mình lại không được như lòng cha mẹ mong, cũng không được như ý nguyện của chính mình? Vậy thì rõ ràng là số phận không do con người quyết định. Nếu nói số phận con người do tự nhiên tạo nên, thì đó là lời sáo rỗng, tuyệt đối không thể có chuyện như vậy. Chắc chắn có một Đấng Tể Trị, có Trời đang an bài chuyện này trong cõi u minh”. Sau khi trải nghiệm một vài giai đoạn của cuộc đời, họ sẽ ngộ ra đôi điều. Hoặc có một số giai đoạn trong đời mà họ vẫn chưa trải nghiệm, nhưng từ cha mẹ hoặc người đi trước, họ cũng đúc kết ra được một số nhận thức và sự lĩnh ngộ, đương nhiên, đây cũng là điều họ ngộ ra về cuộc đời. Trước hết, họ tin vào số phận. Trên cơ sở tin vào số phận, họ tin rằng có Trời. Như vậy có khách quan không? (Thưa, khách quan.) Có lẽ có người nói: “Những gì Ngài nói không khách quan. Chúng con cũng là người, nhưng chúng con đâu có nghĩ như vậy”. Chúng ta nói rằng người có lương tâm và lý trí sẽ suy ngẫm các câu hỏi về cuộc đời, chứ không nói là họ ngồi không rồi suy nghĩ như đi lúc học, suy nghĩ bốn mươi lăm phút rồi nghĩ ra một đáp án. Thay vào đó, khi tuổi tác tăng dần và trải nghiệm ngày càng nhiều chuyện, thì chẳng biết từ lúc nào, họ sẽ vô thức mà ngộ ra về cuộc đời. Sự ngộ ra này không phải ngày một ngày hai là có, cũng không phải một năm là có. Có lẽ từ năm ba mươi tuổi, họ bắt đầu trải nghiệm cuộc đời, bắt đầu tiếp xúc với xã hội, tiếp xúc với mọi người, sau khi dần dà trải nghiệm đủ loại chuyện, họ tích lũy từng chút một, rồi cuối cùng đi đến kết luận như vậy. Nghĩa là đến một độ tuổi nào đó, sau khi trải qua một số hành trình của cuộc đời, người có lương tâm và lý trí trước hết sẽ tin rằng con người có số phận, mà số phận thì do Trời tể trị và an bài. Họ đã đúc kết được điều này. Ngoài ra, họ còn đúc kết được điều gì? “Đời của người ta hưởng phúc hay chịu khổ, nghèo hay giàu, làm quan lớn hay làm dân thường, tất cả đều không do bản thân họ quyết định”. Theo suy nghĩ của con người, ai mà chẳng muốn làm quan, hưởng thụ đời sống vật chất tốt, cả đời hạnh phúc, như ý và thuận lợi. Nhưng dù có lý tưởng như vậy, người ta cũng chưa chắc thực hiện được, số phận của mỗi người mỗi khác. Chẳng hạn như, có người lúc nhỏ trông chẳng có gì nổi bật, lôi thôi nhếch nhác, nhưng lớn lên lại thành đạt, chuyện này người ta không nhìn thấu nổi. Rồi chẳng hạn, có cô gái lúc nhỏ rất hiếu thắng, học hành giỏi giang, ngoại hình đặc biệt nổi bật, nhưng kết quả thế nào? Cô ta lại lấy phải một tên lưu manh, ngày nào cũng bị đánh, con cái sinh ra cũng không đẹp như cô ta tưởng tượng, toàn là những đứa xấu xí khó coi. Cô ta hiếu thắng như vậy, ngoại hình đẹp như vậy, lại có biết bao người đeo đuổi, thế mà chọn đi chọn lại cuối cùng chọn phải một tên lưu manh, đây là chuyện người ta không ngờ tới. Còn có người cũng rất hiếu thắng, mơ ước lớn lên làm tướng quân, làm tỉnh trưởng. Kết quả thế nào? Lớn lên, anh ta lại sống bằng nghề làm ruộng. Trình độ học vấn của anh ta cũng khá cao, cả ngày đeo kính, ăn nói lưu loát, đi đến đâu cũng kể những câu chuyện và tích truyện lịch sử cho người ta nghe, thậm chí anh ta trên thông thiên văn dưới tường địa lý, còn biết xem tướng số, nhưng cuối cùng anh ta lại chẳng làm nên chuyện gì, cả đời chỉ làm nông dân. Từ những chuyện này có thể thấy rằng số phận đời người đều có sự an bài của Trời. Ngươi có lý tưởng và nguyện vọng tốt chưa chắc đã thực hiện được, ngươi không có lý tưởng và nguyện vọng tốt, có khi vận may lại tự đến. Chuyện này ứng nghiệm câu nói của người ngoại đạo “Trời xanh có mắt”. Chuyện này hoàn toàn do Đấng Tạo Hóa tể trị và an bài. Ngoài ra, một người giờ đang nghèo cũng chưa chắc sẽ nghèo cả đời. Có người khi nghèo túng thì vợ chê nghèo rồi bỏ đi. Thế mà vài năm sau, anh ta làm ăn phát đạt, trở thành triệu phú, đi xe sang, ở biệt thự, ăn mặc sang trọng và đeo đầy vàng bạc. Lúc đó người vợ muốn quay về, nhưng người ta thà không cưới ai nữa cũng chẳng cần cô ta. Ngươi thấy đấy, cô vợ này đơn giản là không có phúc, số cô ta là số nghèo. Trong đời này, người ta nghèo hay giàu đều không do bản thân họ quyết định, chẳng biết lúc nào ngươi sẽ giàu lên, cũng không biết trong hoàn cảnh nào ngươi sẽ trở nên nghèo túng. Có những người giàu cho rằng mình sẽ giàu cả đời nên xem thường người nghèo, không thèm để ý đến người nghèo. Thế mà vài năm sau, họ trở nên nghèo túng, còn người từng bị họ bắt nạt và chẳng buồn để mắt đến thì giờ lại giàu có hơn họ và chẳng buồn để mắt đến họ. Ngoài việc đúc kết ra rằng chuyện giàu nghèo không do bản thân người ta quyết định, thì người có lương tâm và lý trí còn ngộ ra được điều gì nữa về cuộc đời? Có người nói: “Người ta sống một đời, dù không làm việc thiện thì cũng đừng làm chuyện ác, bởi vì Trời xanh có mắt! Xem gia đình đó đi, từ đời ông bà đã xấu xa, luôn lừa người hại người, cuối cùng thế nào? Báo ứng giáng xuống đứa cháu nhà họ, nó sinh ra đã bị tàn tật. Cho nên đừng làm việc ác, ông Trời có mắt, làm việc ác thì sớm muộn gì cũng bị báo ứng!”. Loại người có lương tâm và lý trí này, lúc chưa hiểu lẽ thật, đã trải nghiệm nhiều chuyện và chịu nhiều đau khổ, đến lúc được năm mươi, sáu mươi tuổi, họ sẽ ngộ ra đủ điều về nhân sinh. Cuối cùng, những điều họ ngộ ra đó đều quy về chuyện có số phận và có Trời, quy ra rằng số phận con người do Trời tể trị và an bài trong cõi u minh, rằng sau khi chết sẽ có báo ứng, rằng con người đừng làm việc ác, rằng bất kể người ta làm việc ác gì thì ông Trời có mắt và ông Trời nhìn thấy cả. Đừng cho rằng người khác không biết ngươi làm việc ác, người khác có lẽ không biết, nhưng ông Trời thì nhất định biết. Kiếp này người ta mắc nợ gì thì kiếp sau đều phải trả, có khi còn phải trả qua nhiều kiếp. Ngươi xem, từ xưa đến nay, hễ là kẻ làm quá nhiều việc ác thì đều không có kết cục tốt đẹp, đều bị báo ứng. Có kẻ vì giết quá nhiều người nên bị trừng phạt, hàng trăm năm không được đầu thai làm người, cứ liên tục đầu thai làm heo làm bò, bị giết rồi lại đầu thai làm heo làm bò, luân hồi kiếp này qua kiếp khác, đó chính là chịu báo ứng. Ngay cả khi loại người có lương tâm và lý trí này không hiểu lẽ thật, họ vẫn có một vài cảm giác đối với những chuyện trong cuộc đời, có thể ngộ ra được một vài điều tích cực, và cuối cùng cũng có thể đạt được một vài đáp án tích cực. Những đáp án tích cực đó giúp họ đúc kết ra được một vài nguyên tắc làm người mà người ta nên có và con đường mà người ta nên đi. Sống một đời như vậy, ít nhất họ có thể làm ít việc ác hơn và tránh được một vài sự trừng phạt. Càng có sự từng trải trong đời, càng ngộ ra những điều về cuộc đời, thì người ta càng có thể đối diện một cách đúng đắn với tiền đồ và tương lai của mình, càng có thể thuận theo tự nhiên mà để mọi chuyện xảy ra một cách tự nhiên, chứ không cưỡng ép và dùng sức người để khống chế mọi chuyện này. Chẳng hạn như đối với tiền đồ và hôn nhân của con cái, hay chuyện con cái đối xử với người già thế nào, họ đều có thể thuận theo tự nhiên và đối diện một cách đúng đắn, chứ không dùng những phương thức nhân tạo hoặc hành vi cực đoan để kiểm soát hết thảy. Vì vậy, khi một người ngộ ra những điều này về cuộc đời, thì ở một mức độ nhất định, họ có thể thuận theo sự an bài của Trời, cũng có thể thuận theo sự an bài của số phận, ít làm hoặc không làm những chuyện ngu xuẩn.
Những điều ngộ ra về cuộc đời thì có rất nhiều. Ngoài những điều vừa thông công, các ngươi còn ngộ ra điều gì khác không? (Thưa, còn có chuyện sinh lão bệnh tử cũng không do con người quyết định.) Đúng vậy, sinh lão bệnh tử không do con người quyết định. Ngươi thấy đấy, có người thân thể rất khỏe mạnh, thế mà mắc một trận cảm cúm chưa đầy hai ngày đã chết. Trong khi đó, có người bệnh tật ốm yếu, quanh năm uống thuốc nhưng lại sống thọ đến hơn tám mươi tuổi. Người ta chết lúc nào không phải do bản thân họ quyết định, cũng không phải là chuyện họ có thể lựa chọn. Các ngươi còn ngộ ra điều gì về cuộc đời nữa không? (Thưa, còn có chuyện tình yêu và hôn nhân cũng không do bản thân người ta quyết định.) Rất nhiều chuyện, lúc đó con người không nhìn thấu, nhưng sống đến một độ tuổi nhất định thì họ sẽ ngộ ra được đôi điều. Chẳng hạn, có rất nhiều chuyện đều không phải do con người tạo nên, không chuyển biến theo ý chí của con người, cũng không phải do ý chí con người quyết định. Các ngươi nói xem, người có thể suy ngẫm những câu hỏi này và ngộ ra những điều này về cuộc đời, thì khi nghe lời Đức Chúa Trời, có phải trong lòng họ sẽ càng sáng tỏ không? (Thưa, phải.) Nếu có thể nhận được đáp án từ trong lời Đức Chúa Trời thì họ có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời không? Họ có thừa nhận tính chân thực của lời Đức Chúa Trời không? (Thưa, họ sẽ thừa nhận.) Người có lương tâm và lý trí sau khi trải nghiệm một vài giai đoạn trong đời sẽ ngộ ra đôi điều về cuộc đời. Một điểm cơ bản nhất trong những điều ngộ ra này chính là họ tin vào số phận và tin có Đức Chúa Trời. Trên nền tảng đó, khi họ đến trước mặt Đức Chúa Trời, thì lời Ngài cho họ đáp án, cũng cho họ con đường, xác nhận cho những điều ngộ ra mà họ thu hoạch được trong quá trình trải nghiệm cuộc đời, đồng thời cũng cho họ đáp án cụ thể. Nghĩa là lời Đức Chúa Trời vừa hay bổ sung một số chi tiết cụ thể mà họ chưa thể ngộ ra trong quá trình trải nghiệm cuộc đời, giúp họ hiểu rõ hơn và tin chắc hơn rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, rằng Đức Chúa Trời tể trị vận mệnh nhân loại là chuyện không còn nghi ngờ gì nữa. Họ vốn dĩ đã có nền tảng này, và đã đạt được đáp án như vậy trong quá trình trải nghiệm cuộc đời. Khi họ đến trước mặt Đức Chúa Trời và hiểu lẽ thật từ trong lời Ngài, thì lời Ngài khiến họ càng thêm tin chắc về sự hiện hữu của Ngài và sự thật rằng Ngài tể trị số phận nhân loại. Nghĩa là lời Đức Chúa Trời khiến họ xác nhận rằng những điều mình ngộ ra là đúng và chính xác. Vì vậy, trên nền tảng là đã ngộ ra những điều về cuộc đời, họ càng tin chắc rằng Đức Chúa Trời thực sự hiện hữu, mặc dù không thể nhìn thấy hay chạm đến, nhưng sự hiện hữu của Ngài là điều không thể phủ nhận. Thực ra, khi chưa đến trước mặt Đức Chúa Trời, họ đã có ý thức và cảm giác như vậy rồi. Khi đạt được sự xác nhận từ trong lời Đức Chúa Trời, đương nhiên đức tin của họ được gia tăng, không phải càng thêm nghi hoặc, mà thay vào đó, họ càng có đức tin nơi Đức Chúa Trời, càng tin chắc về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Như vậy, họ sẽ tiếp nhận lời Đức Chúa Trời dễ dàng hơn người bình thường. Cũng giống như Gióp, ông đã ngộ ra được gì về cuộc đời? “Đức Giê-hô-va ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi, đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!” (Gióp 1:21). Trước khi Đức Chúa Trời thử luyện ông, trước khi Đức Chúa Trời mặt đối mặt với ông, ông đã cảm nhận được điều này rồi. Vì vậy, khi Đức Chúa Trời thử luyện ông, trong lòng ông càng tin chắc rằng đây là việc do Đức Chúa Trời làm, tuyệt đối không sai. Nghĩa là, lúc Đức Chúa Trời thử luyện ông, không phải ông bắt đầu nhận biết Đức Chúa Trời, tiếp xúc và nhận biết việc Đức Chúa Trời làm, nhận biết sự tể trị của Đức Chúa Trời từ con số không, thay vào đó, ông đã hiểu và lĩnh hội được việc làm và sự tể trị của Đức Chúa Trời rồi. Trên nền tảng đó, ông càng xác nhận được rằng những gì ông nhận biết và ngộ ra là đúng, Đức Chúa Trời quả thật hành động như vậy. Cũng thế, khi người có lương tâm và lý trí đã ngộ ra được những chuyện về cuộc đời trước khi đến trước mặt Đức Chúa Trời, thì họ dường như chẳng có khó khăn gì trong việc tiếp nhận lời Đức Chúa Trời. Họ có thể càng tin chắc rằng lời Đức Chúa Trời là đúng, chỉ là trong những điều họ ngộ ra được về cuộc đời không có nhiều chi tiết cụ thể mà thôi, và điều này khiến họ càng thêm tin chắc và xác nhận rằng những nhận thức này của họ là đúng, khiến họ không còn nghi ngờ gì về Đức Chúa Trời nữa. Khi họ không còn nghi ngờ Đức Chúa Trời và có thể tin chắc về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, thì đối với họ, việc tiếp nhận sự tể trị của Đức Chúa Trời và lời Đức Chúa Trời có khó không? Chẳng phải dễ hơn so với những người căn bản không tin, không thừa nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời hoặc luôn đặt dấu hỏi về sự hiện hữu của Ngài sao? (Thưa, phải.) Ngay cả khi vẫn bị những tâm tính bại hoại cản trở, nhưng ít nhất, thái độ của họ đối với lời Đức Chúa Trời và đối với lẽ thật được xây dựng trên nền tảng là niềm tin vững chắc không chút nghi ngờ của họ rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tể Trị của nhân loại. Nghĩa là khi Đức Chúa Trời thử luyện họ hoặc hành phạt và phán xét họ, thì thứ nhất, ít ra họ sẽ không phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, thứ hai, họ sẽ không nghi ngờ sự tể trị của Đức Chúa Trời, và thứ ba, họ sẽ không cự tuyệt sự tể trị của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ chỉ chú trọng giải quyết tâm tính bại hoại của mình. Như vậy thì tình trạng của họ khác hẳn với tình trạng của những người căn bản không tin Đức Chúa Trời hiện hữu hoặc luôn nghi ngờ Ngài. Về những người căn bản không tin Đức Chúa Trời hiện hữu, khi hình phạt và sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng xuống họ hoặc khi Đức Chúa Trời sắp đặt hoàn cảnh để sửa dạy họ, trước hết họ sẽ kháng cự Đức Chúa Trời. Họ sẽ phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nói rằng, “Chuyện này không phải do đức chúa trời làm, đức chúa trời đời nào làm như vậy!”, hoặc nói rằng, “Đức chúa trời ở đâu chứ? Đây chính là việc do con người làm!”. Họ sẽ nảy sinh những hành vi và tuyên bố của kẻ chẳng tin. Trong khi đó, những người nghi ngờ Đức Chúa Trời thì luôn ngẫm nghĩ: “Đây là việc Đức Chúa Trời làm sao? Mình không tin Đức Chúa Trời sẽ làm như vậy. Đức Chúa Trời yêu thương con người, bận tâm đến con người. Ngài sẽ tể trị như thế sao? Mình thấy Ngài sẽ không làm vậy. Đằng nào mình cũng không muốn tiếp nhận chuyện này, không phù hợp với quan niệm của mình thì mình không tiếp nhận!”. Ngươi xem, đối với sự phán xét, hành phạt, sửa dạy và thử luyện của Đức Chúa Trời, thái độ của hai loại người này khác nhau. Còn loại người có phẩm chất của lương tâm và lý trí trong nhân tính và thực sự tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, thì khi Đức Chúa Trời sắp đặt hoàn cảnh để thử luyện họ, trước hết họ đứng ở lập trường của loài thọ tạo để tiếp cận hoàn cảnh mà Đức Chúa Trời an bài, trong lòng giữ thái độ thuận phục mà đối đãi với Đấng Tạo Hóa, với Đức Chúa Trời. Họ không có thái độ nghi ngờ, cự tuyệt hay phủ nhận, thay vào đó, họ tin rằng: “Đây là việc Đức Chúa Trời làm, là sự tể trị của Đức Chúa Trời”. Mặc dù họ cũng có thể nảy sinh sự phản nghịch, cũng có thể nảy sinh quan niệm, có thể nói lý lẽ, nhưng ít nhất thái độ của họ đối với hoàn cảnh này là: “Đây là việc Đức Chúa Trời làm, Đức Chúa Trời tể trị hết thảy”. Ngoài ra còn một điểm nữa, ít nhất họ sẽ không nghi ngờ rốt cuộc Đức Chúa Trời có hiện hữu hay không, chuyện này tuyệt đối sẽ không xảy ra. Vì vậy, bất kể Đức Chúa Trời làm công tác gì trên họ, thì thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời là thái độ của loài thọ tạo đối với Đức Chúa Trời, chứ không phải thái độ đối với một người bình thường. Chẳng phải thái độ đối với Đức Chúa Trời của người có lương tâm và lý trí thì khác với của kẻ chẳng tin và người luôn nghi ngờ Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.)
Kẻ chẳng tin đối đãi với Đức Chúa Trời như thể không khí, thậm chí coi Đức Chúa Trời như một người bình thường, ngang hàng với mình. Người nghi ngờ Đức Chúa Trời, khi chưa gặp chuyện thì có một sự tưởng tượng sáo rỗng mơ hồ về Ngài, đến khi gặp chuyện thì nảy sinh đủ loại nghi kỵ, nghi hoặc, thậm chí hoài nghi đối với Ngài. Nhưng người có lương tâm và lý trí, bởi vì trong lòng chắc chắn rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, chắc chắn về thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, cho nên bất kể nảy sinh sự phản nghịch hay quan niệm nào đối với Đức Chúa Trời, ít ra, họ vẫn đối đãi với Ngài bằng thái độ của một loài thọ tạo đối đãi với Đấng Tạo Hóa. Loại người này có khác xa hai loại người trước không? (Thưa, khác xa.) Họ sẽ không nghi ngờ Đức Chúa Trời, cũng sẽ không coi Đức Chúa Trời như một người bình thường. Vì sao lại nói đến sự khác biệt này? Bởi vì bất kể người có nhân tính bộc lộ tâm tính bại hoại gì, nảy sinh quan niệm hay sự phản nghịch nào đối với Đức Chúa Trời, thì những điều đó đều nảy sinh trong phạm vi lương tâm và lý trí của nhân tính họ. Thứ nhất, họ sẽ không chửi rủa Đức Chúa Trời. Thứ hai, họ sẽ không xét đoán hay báng bổ Đức Chúa Trời. Thứ ba, họ sẽ không kháng cự công tác mà Đức Chúa Trời làm trên họ. Cùng lắm là họ nói lý lẽ, hoặc không sẵn tiếp nhận hoàn cảnh đó, không sẵn lòng tiếp nhận cách công tác như vậy của Đức Chúa Trời. Nhưng ít ra, họ đối đãi với Đức Chúa Trời như Đức Chúa Trời, ngay cả khi họ có một vài biểu hiện phản nghịch thì chúng cũng bị giới hạn trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Ngược lại, những người phủ nhận Đức Chúa Trời, thì khi chưa gặp hoàn cảnh gì, họ chẳng có ý thức về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, còn khi gặp hoàn cảnh nào đó và họ cho rằng Đức Chúa Trời đã làm chuyện bất lợi cho họ, hoặc là sửa dạy họ, hoặc là tước đoạt và làm họ mất đi lợi ích nào đó, thì trong lòng họ sẽ xét đoán, nguyền rủa và báng bổ Đức Chúa Trời không chút kiêng dè, không có chút lòng kính sợ Đức Chúa Trời nào. Thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời hoàn toàn khác với thái độ của người có lương tâm và lý trí đối với Đức Chúa Trời. Họ dám chửi rủa Đức Chúa Trời, và việc chửi rủa này không chỉ là phản nghịch, mà là chửi rủa một cách không kiềm chế, không tiết chế. Vì sao không kiềm chế, không tiết chế? Bởi vì họ không phải là người, không có lương tâm và lý trí, họ đối đãi với Đức Chúa Trời chẳng khác nào đối đãi với một người bình thường nhất. Nếu lời Đức Chúa Trời phán đụng chạm đến vấn đề của họ, thì họ sẽ đối đãi với Đức Chúa Trời như kẻ thù, nghĩ bụng: “Ngài nói những lời bất lợi cho tôi thì tôi nổi giận, tôi sẽ phản kích ngài! Chỉ cần lời nói và việc làm của ngài không liên quan đến tôi thì tôi với ngài không có vấn đề gì. Nhưng nếu xảy ra chuyện gì gây tổn hại lợi ích của tôi hoặc chuyện tôi bị bắt bớ, thì bất kỳ lúc nào tôi cũng có thể phủ nhận đức chúa trời và từ bỏ đức chúa trời!”. Họ còn nói thầm trong lòng rằng: “Tin Đức Chúa Trời chẳng có ý nghĩa gì, còn bị bách hại, bị chèn ép, tôi không chịu cái khổ này đâu!”. Ngươi xem, trong lòng họ lúc nào cũng có ý niệm không tin Đức Chúa Trời nữa và vứt bỏ Đức Chúa Trời. Chỉ cần gặp chuyện không như ý là họ có những ý nghĩ đó và muốn rời xa Đức Chúa Trời. Đây chính là tình trạng thường thấy nhất của ma quỷ và những kẻ chẳng tin. Một khi gặp chuyện bất lợi cho bản thân, họ sẽ muốn phủ nhận Đức Chúa Trời, không tin Đức Chúa Trời, muốn rũ bỏ danh Đức Chúa Trời mà chạy trốn thật xa. Họ không chỉ vứt bỏ danh Đức Chúa Trời mà còn oán trách Đức Chúa Trời không thể bảo vệ họ hay bảo vệ lợi ích của họ. Có người thậm chí còn nói: “Rốt cuộc Đức Chúa Trời có hiện hữu hay không? Đức Chúa Trời thực sự có thể tể trị hết thảy sao?”. Còn có người nói: “Phụng sự Đức Chúa Trời đâu có dễ, chơi với vua như chơi với hổ vậy!”. Ngươi xem, những lời đại nghịch bất đạo như vậy mà họ cũng dám nói ra. Nếu ngươi thực sự coi Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, thực sự tin có Đức Chúa Trời, thì khi gặp chuyện bất lợi cho mình, nếu dựa vào lương tâm và lý trí của người bình thường mà phán đoán, thì ngươi có xét đoán và báng bổ Đức Chúa Trời như vậy không? Ngươi sẽ không làm vậy, bởi vì căn bản không vượt qua nổi cửa ải lương tâm, cho nên ngươi căn bản sẽ không nảy sinh những ý nghĩ đó. Vậy ngươi còn nói ra những lời như thế không? Những lời như thế sẽ không thốt ra từ miệng ngươi. Những ma quỷ và kẻ chẳng tin kia mà gặp chuyện bất lợi cho mình thì sẽ chửi rủa và báng bổ Đức Chúa Trời, cuối cùng họ vứt bỏ Đức Chúa Trời và không tin nữa. Còn có người, khi gặp một số chuyện không như ý thì dùng cách đình công, bỏ ngang việc trong tay và không làm bổn phận để biểu tình. Có một kẻ chẳng tin đã làm việc ác và gây tổn thất nghiêm trọng cho nhà Đức Chúa Trời. Nhà Đức Chúa Trời cách chức họ, bảo họ đến hội thánh bình thường thì họ không đi, nói rằng: “Nếu bảo tôi đến hội thánh bình thường thì tôi sẽ tuyệt thực, tôi sẽ chết ở đây!”. Có vài anh chị em liền tỉa sửa họ và thông công với họ. Ta nói: “Ngươi chấp nhặt với loại người như thế chẳng phải là ngu ngốc sao? Đây là ma quỷ hiện nguyên hình rồi, ngươi còn đòi nói cho ra lẽ với họ cái gì chứ?”. Nếu là người, họ có thể làm ra chuyện như vậy sao? Họ đang đối đầu với ai đây? Chưa nói đến chuyện họ đã làm quá nhiều việc ác và gây tổn thất lớn như vậy cho nhà Đức Chúa Trời, chuyện nhà Đức Chúa Trời xử lý họ vốn đã là hợp tình hợp lý và danh chính ngôn thuận, ngay cả khi họ không làm việc ác nào, nhưng họ không làm được công tác nên bị nhà Đức Chúa Trời cách chức, đây chẳng phải cũng là chuyện chính đáng sao? Đây là hành động theo nguyên tắc, họ còn giở trò vô lại gì chứ? Giở trò vô lại như vậy thì họ bị tỏ lộ rồi, càng phải bị đuổi đi. Họ muốn đi đâu thì để họ đi đó, hội thánh xóa tên họ là xong chuyện. Đây là ma quỷ, ngươi còn đòi nói cho ra lẽ với họ cái gì chứ? Đòi nói cho ra lẽ với họ thì ngươi ngu xuẩn rồi. Ngươi có thể nói rõ lý lẽ với ma quỷ được sao? Kẻ chẳng tin này không có lương tâm và lý trí, chuyện bẩn thỉu gì cũng làm, còn giở trò vô lại, tưởng rằng giở trò vô lại thì nhà Đức Chúa Trời không làm gì được họ. Dạng người này rất dễ xử lý, cứ đuổi đi là xong, khuất mắt thì khỏi phiền. Ngươi mà đối đãi với một kẻ chẳng tin thuộc về ma quỷ như người bình thường, thì chẳng phải là ngu muội sao? Ma quỷ chẳng tiếp nhận lẽ thật chút nào, bất kể tin bao lâu họ cũng không đạt được lẽ thật, ngươi còn thông công lẽ thật với họ, vậy chẳng phải là làm việc vô ích sao? Nếu ngươi muốn họ được làm tinh sạch và được cứu rỗi, thì đó là chuyện không thể nào. Họ chính là ma quỷ hiện nguyên hình, nên thanh trừ họ đi. Đối với kẻ chẳng tin thì nên xử lý như vậy.
Những kẻ hồ đồ mang thuộc tính động vật đó thì không thừa nhận Đức Chúa Trời từ tận đáy lòng, không đối đãi với Đức Chúa Trời như Đức Chúa Trời, không tôn trọng xác thịt của Đức Chúa Trời và không kính sợ Đức Chúa Trời trên trời, họ là thứ hám lợi. Hôm nay được ban phúc có lợi cho mình thì họ nói: “Đức chúa trời thật tốt, đức chúa trời vĩ đại, đức chúa trời công chính, đức chúa trời cao thượng!”. Nhưng đến một ngày nào đó, lợi ích của họ bị tước đi và họ phải chịu khổ, thì họ sẽ phủ nhận và phản bội Đức Chúa Trời, còn nói: “Đức chúa trời thì cũng chưa chắc là cái gì cũng tốt, tôi không tin đức chúa trời nữa!”. Nếu nhà Đức Chúa Trời phát phúc lợi gì đó để họ được hưởng miễn phí, thì họ vui mừng và nói: “Đức chúa trời quá yêu thương con người, đức chúa trời thật đáng mến! Trong lòng tôi ngợi khen đức chúa trời!”. Họ vui đến mức hân hoan nhảy nhót, ban đêm nằm mơ cũng có thể bật cười mà tỉnh giấc. Nhưng nếu không còn miễn phí nữa, thì họ lập tức trở mặt, không vui nữa, cũng không nói Đức Chúa Trời đáng mến hay Đức Chúa Trời bận tâm đến con người nữa, thay vào đó, họ sẽ xét đoán nhà Đức Chúa Trời quá keo kiệt, không có tình yêu thương. Họ lật mặt nhanh đến vậy đấy. Loại người này có lương tâm, có lý tính không? (Thưa, không có.) Người không có lương tâm và lý trí thì không có liêm sỉ. Lúc được lợi thì nói Đức Chúa Trời tốt, không được lợi thì lập tức trở mặt và nói: “Đức chúa trời không tốt, không có đức chúa trời”, lời này mà họ cũng có thể nói ra được. Một cái miệng mà nói ra hai lời khác nhau, như thể họ bị nhân cách phân liệt vậy. Chính họ nói Đức Chúa Trời tốt, cũng chính họ nói Đức Chúa Trời không tốt. Họ nói chuyện dựa vào điều gì? Chỉ dựa vào chuyện họ có được lợi hay không. Không được lợi thì họ nói Đức Chúa Trời không tốt, họ có thể nói ra những lời như vậy đấy. Thông thường, người có lương tâm và lý trí mà nói ra những lời như vậy thì trong lòng sẽ áy náy: “Ôi, mình thật là vô lương tâm, lời mình vừa nói không thích hợp, sau này mình không được nói như vậy nữa. Lời đã nói ra rồi thì không thu lại được, nhân tính của mình đã bị tỏ lộ mất rồi”. Họ sẽ phản tỉnh và nhận biết bản thân. Nhưng loại người do động vật đầu thai thì không biết phản tỉnh hay nhận biết bản thân. Họ nói thế nào cũng thấy mình có lý, vui thì nói kiểu này, không vui thì nói kiểu khác. Họ chẳng có liêm sỉ, cũng chẳng có nhân cách và tôn nghiêm, chẳng quan tâm người khác nhìn nhận mình thế nào. Vậy trong lòng họ rốt cuộc có Đức Chúa Trời hay không? Nói chính xác thì không có. Nói khách quan thì là thế này: Khi cần đến Đức Chúa Trời, thì họ nói có Đức Chúa Trời, nói Đức Chúa Trời ở cùng họ, ân đãi và giúp đỡ họ, chăm sóc và bảo vệ họ. Nhưng khi Đức Chúa Trời quở trách và sửa dạy họ, khiến họ mất mặt, khiến họ không còn thể diện, thì họ cảm thấy những việc Đức Chúa Trời làm gây bất lợi cho mình, thế là họ nói Đức Chúa Trời không tốt, và bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời. Ngươi nói xem, loại người này thì có lương tâm và lý trí gì chứ? Họ đối đãi với Đức Chúa Trời như đối đãi với con người, hoàn toàn không giữ chút ranh giới tối thiểu nào của lương tâm. Với Đức Chúa Trời mà họ cũng dám tranh cãi, dám nói lý lẽ, dám to tiếng mắng chửi, không có chút sợ hãi hay kính sợ nào đối với Đức Chúa Trời. Sau đó, họ lại hối hận: “Ôi, mình đã phụ lòng Đức Chúa Trời!”. Nhưng lần sau gặp chuyện tương tự, họ vẫn làm như vậy. Trong lòng họ mãi mãi không có sự kính sợ thực sự đối với Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời không có địa vị trong lòng họ. Nhưng người thực sự có lương tâm và lý trí thì trong lòng có một vị trí cố định dành cho Đức Chúa Trời, và vị trí cố định dành cho Đức Chúa Trời này khiến họ đối đãi với Đức Chúa Trời một cách chân thành, thật lòng và tôn kính hơn bất kỳ ai khác. Sự chân thành, thật lòng và tôn kính này chính là thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời dưới tác dụng của lương tâm và lý trí cơ bản. Vì vậy, bất kể lúc nào, cho dù họ yếu đuối, tiêu cực, gặp thất bại hay bị sửa dạy, thì họ cũng sẽ không vượt quá ranh giới tối thiểu này. Bất kể gặp khó khăn lớn đến đâu, chịu đau khổ nhiều thế nào, họ cũng sẽ không vượt quá ranh giới này, bởi vì họ là con người đích thực. Họ tin rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, tin rằng Đức Chúa Trời tể trị số phận của nhân loại, cho nên họ sẽ không vượt quá ranh giới tối thiểu của lương tâm mà xúc phạm Đức Chúa Trời, cũng sẽ không cố ý chửi rủa Đức Chúa Trời, chống đối và phản nghịch Đức Chúa Trời một cách có ý thức. Cái không cố ý ở đây nói đến sự ràng buộc của lương tâm và lý trí. Đương nhiên, dưới tác dụng của lương tâm và lý trí, họ cũng có thể làm được một số việc mà một người có nhân tính bình thường nên làm. Ví dụ, bất kể Đức Chúa Trời làm công tác gì hoặc phán những lời nào không hợp với quan niệm của họ, thì họ sẽ không cố ý xét đoán hay bình luận, mà có thể tiếp cận một cách đúng đắn hoặc tìm kiếm lẽ thật để giải quyết quan niệm của mình. Trong tiềm thức của họ có một ranh giới tối thiểu cơ bản. Bởi vì họ tin có Đức Chúa Trời, cho nên dưới tác dụng của lương tâm và lý trí, họ sẽ có những suy ngẫm như vậy. Sau khi suy ngẫm, họ sẽ có một thái độ cơ bản và những nguyên tắc cơ bản để đối đãi với Đức Chúa Trời. Trên nền tảng của những nguyên tắc cơ bản này, người ta mới có thể duy trì mối quan hệ giữa loài thọ tạo và Đấng Tạo Hóa, duy trì một mối quan hệ đúng đắn, bình thường và chính đáng như vậy. Dưới tác dụng của mối quan hệ này, người ta mới có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời một cách bình thường, thuận phục và thực hành lời Đức Chúa Trời một cách bình thường. Các ngươi nói xem, những người thường xuyên chửi rủa Đức Chúa Trời, hở ra là muốn ngừng tin Đức Chúa Trời, hở ra là trong lòng oán trách và hận Đức Chúa Trời, họ có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời không? Có thể thực hành lời Đức Chúa Trời không? (Thưa, không thể.) Thái độ của những người này đối với Đức Chúa Trời chính là thái độ của ma quỷ đối với Đức Chúa Trời. Ma quỷ đã đối đãi với Đức Chúa Trời bằng thái độ như vậy, thì có thể coi lời Đức Chúa Trời là lẽ thật không? Vĩnh viễn không thể nào. Chỉ có loài người thọ tạo mới có thể coi lời Đức Chúa Trời là lẽ thật. Khi coi lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, người ta mới sẵn lòng tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, mới có thể tiến thêm một bước mà thuận phục, thực hành và bước vào lời Đức Chúa Trời, cuối cùng có thể được làm tinh sạch và được cứu rỗi.
Người có đặc tính của lương tâm và lý trí trong nhân tính có một nguyên tắc cơ bản trong cách đối đãi với Đức Chúa Trời, chính là có lòng thuận phục. Bất kể gặp chuyện gì, họ tuyệt đối sẽ không tùy tiện xét đoán, mà sẽ cầu nguyện với Đức Chúa Trời và tìm kiếm lẽ thật, đây là biểu hiện mà người bình thường nên có. Nếu biểu hiện của người này phù hợp với lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường, hoặc được lương tâm và lý trí đưa vào khuôn khổ, ràng buộc và kiểm soát, thì người này chính là con người, và là đối tượng mà Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi. Nếu họ hành động mà không có lương tâm và lý trí đưa vào khuôn khổ, càng không có lương tâm và lý trí ràng buộc, trong lòng mơ mơ hồ hồ, dù muốn có thái độ tốt đối với Đức Chúa Trời nhưng mãi cũng không làm được, chẳng biết rốt cuộc nên đối đãi với Đức Chúa Trời thế nào, chẳng biết con người ở trước mặt Đức Chúa Trời nên tuân thủ nguyên tắc gì mới đúng đắn – nếu họ đều không biết những chuyện này, chỉ mơ mơ hồ hồ và hồ đồ, ở với người tốt thì học làm người tốt, ở với kẻ ác thì học làm kẻ ác, vậy thì họ là loại người gì? Ngươi xem, ở cùng với người có lương tâm và lý trí thì họ không làm việc ác gì, nhưng chuyện đó không đồng nghĩa với họ có nhân tính. Nếu ở cùng kẻ ác thì họ sẽ làm việc ác. Kẻ ác chửi rủa Đức Chúa Trời thì họ cũng nảy sinh nghi ngờ đối với Đức Chúa Trời, kẻ ác phủ nhận và xét đoán Đức Chúa Trời thì họ không thấy phản cảm, cũng chẳng tiến hành phân định, vẫn tiếp tục qua lại với kẻ ác. Họ chẳng bao giờ bảo vệ công tác của nhà Đức Chúa Trời, lời chứng của Đức Chúa Trời hay lợi ích của hội thánh, mà lại làm kẻ đứng ngoài quan sát, còn không biết đúng sai. Vậy thì họ thuộc loại do động vật đầu thai, tuyệt đối không phải là người. Ngược lại, người có lương tâm và lý trí thì khi chưa tiếp xúc với công tác của Đức Chúa Trời, họ đã có một sự tôn trọng, sợ hãi hoặc kính ngưỡng cơ bản mà con người có thể đạt được đối với Trời Cao, ít nhất đối với họ Trời Cao là thần thánh, là công chính, là cao cả. Sau khi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời và hiểu được một số lẽ thật mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải có, thì dưới tác dụng của lương tâm và lý trí, ngay cả khi không hiểu quá nhiều lẽ thật, họ cũng có thể đúc kết ra một vài lý trí và thái độ mà con người nên có đối với Đức Chúa Trời. Bất kể liên quan đến thân phận của Đức Chúa Trời hay đủ mọi phương diện thuộc về xác thịt của Ngài, họ đều sẽ có một phần tôn trọng, kính ngưỡng và sợ hãi. Tốt hơn chút nữa, trên nền tảng hiểu được một số lẽ thật, họ có thể có lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Họ đối đãi với Đức Chúa Trời không phải theo kiểu tùy tiện, thờ ơ, rất tùy ý, rất khinh mạn, mà thay vào đó họ rất cẩn trọng khi đối đãi với Đức Chúa Trời. Nhất là khi liên quan đến công tác của Đức Chúa Trời, lời chứng của Đức Chúa Trời, danh Đức Chúa Trời, thân phận và địa vị của Đức Chúa Trời, lễ vật dâng cho Đức Chúa Trời, lời Đức Chúa Trời, yêu cầu của Đức Chúa Trời, một lời dặn dò cụ thể của Đức Chúa Trời, đối với những điều này họ đều đặc biệt thận trọng và cẩn thận, tiếp cận với lòng kính sợ và thái độ tôn trọng. Họ không qua loa cho xong chuyện, cũng không làm lấy lệ hay làm cho người ta xem, mà thay vào đó, họ có thể nghiêm túc đối đãi, dùng tấm lòng khiêm nhường và thái độ khiêm nhường để tiếp cận với mọi điều hữu hình hoặc vô hình liên quan đến Đức Chúa Trời. Đây là dạng thái độ mà người có lương tâm và lý trí nên có nhất khi đối đãi với Đức Chúa Trời. Khi chưa hiểu lẽ thật, có khả năng ngươi cũng không hiểu quá chính xác về mấy chữ “Đức Chúa Trời”, cũng không hiểu thân phận, thực chất và tâm tính của Đức Chúa Trời, nhưng ngươi có một phần tôn trọng và sợ hãi đối với Trời Cao. Khi ngươi đã hiểu công tác của Đức Chúa Trời, trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời và tiếp nhận lời Đức Chúa Trời rồi, thì sự kính ngưỡng và sợ hãi của ngươi đối với Đức Chúa Trời sẽ trở thành gì? Trở thành sự thật lòng, thành khẩn và kính sợ, hoặc là run rẩy và sợ hãi. Đây là thái độ mà người có nhân tính bình thường, có lương tâm và lý trí nên nảy sinh khi đối đãi với Đức Chúa Trời. Nếu một người đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm, ngoài miệng nói rằng họ tin có Đức Chúa Trời và thừa nhận có Đức Chúa Trời, nhưng chưa từng nảy sinh thái độ nên có đối với Đức Chúa Trời dưới tác dụng của lương tâm và lý trí, vậy thì có thể hình dung được bên trong họ đang thiếu thứ gì. Nếu chỉ thiếu sự thật lòng và chân thành đối với Đức Chúa Trời, nhưng đối với Đức Chúa Trời vẫn còn một chút sợ hãi và kính sợ, thì chỉ có thể nói rằng người này không được tốt lắm, mặc dù là người, nhưng họ không phải là người quá tốt. Cũng có khả năng là khi ở trong xã hội, họ đã bị các trào lưu tà ác của Sa-tan làm ô nhiễm và ảnh hưởng quá nghiêm trọng, hoặc đã bị trúng độc quá nặng, bị tẩy não quá nghiêm trọng. Nhưng nếu ngươi có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, thì ít ra ngươi vẫn là người. Nếu ngươi chẳng có chút gì thật lòng, sợ hãi hay kính sợ nào đối với Đức Chúa Trời, thì có thể nói ngươi không phải là người, không xứng được gọi là người, và không đạt đến tiêu chuẩn của con người. Khi liên quan đến mọi điều hữu hình hoặc vô hình của Đức Chúa Trời, nếu ngươi đều có thể đối đãi một cách qua loa đại khái, thờ ơ và tùy tiện, thậm chí có thể đối đãi một cách thô bạo và man rợ, vậy thì ngươi không phải là người. Bởi vì đến cả đối đãi với Đức Chúa Trời mà ngươi cũng không có lương tâm và lý trí để đưa ngươi vào khuôn khổ và ràng buộc ngươi, chỉ riêng điểm này cũng đủ để cho thấy vấn đề, cũng đủ để xác định tính chất loại người như ngươi chẳng phải là người. Khi chưa tin Đức Chúa Trời và chưa đến nhà Đức Chúa Trời, thì chuyện ngươi không có sự tôn trọng rõ ràng hoặc thái độ đúng đắn đối với Đức Chúa Trời còn có thể thông cảm được, không có yêu cầu nào quá nghiêm khắc áp đặt lên ngươi. Nhưng giờ ngươi đã tin Đức Chúa Trời, mà trong lúc đi theo Đức Chúa Trời và tiếp nhận sự cung ứng từ lời sự sống của Đức Chúa Trời, ngươi vẫn không thể nảy sinh sự thật lòng, chân thành và kính sợ đối với Đức Chúa Trời, vẫn mang thái độ thô bạo và man rợ mà đối đãi với Đức Chúa Trời, chẳng những không có sự kính sợ mà còn tùy tiện, thờ ơ quá đỗi, giống hệt thái độ Sa-tan đối đãi với Đức Chúa Trời, thế thì chỉ có thể nói rằng loại người như ngươi không có lương tâm và lý trí. Loại người như vậy đối đãi với Đức Chúa Trời theo cách đó, chẳng có sự ràng buộc của lương tâm và lý trí, vậy họ còn là người sao? Họ không phải là người.
Đến đây thì về cơ bản, chúng ta đã thông công đủ nội dung bao gồm nhiều phương diện khác nhau của lương tâm và lý trí của con người rồi. Bất kể là nói về biểu hiện nào của lương tâm và lý trí, tóm lại chúng đều liên quan đến một số tư tưởng, quan điểm cùng hành vi và biểu hiện của con người. Phương diện nào cũng không trống rỗng, có phương diện liên quan đến cách đối đãi với con người, sự việc và sự vật, có phương diện liên quan đến cách tiếp cận với triết lý xử thế, tiếp cận với đủ khía cạnh của đời người, còn có phương diện liên quan đến cách đối đãi với lẽ thật và Đức Chúa Trời. Bất kể xét từ phương diện nào, điểm nổi bật của người có lương tâm và lý trí là trong việc làm người và hành động, họ đều chịu sự ràng buộc và kiểm soát của lương tâm và lý trí, hành động có chừng mực, có ranh giới tối thiểu, đặc điểm của họ là vậy. Có được đặc điểm này thì mới có điều kiện cơ bản để được cứu rỗi. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Vậy có chỗ nào chưa hiểu không? Hôm nay thông công về ba phương diện này, là người có lương tâm và lý trí thì có ý thức liêm sỉ, biết suy ngẫm về đời người, có sự tôn trọng và sợ hãi cơ bản khi đối đãi với Đức Chúa Trời. Các ngươi có cảm thấy không đối chiếu được với bản thân mình trong phương diện nào không? Có phương diện nào sáo rỗng không? (Thưa, không có, chúng con cảm thấy đều có thể đối chiếu chúng với bản thân mình được.) Vậy hôm nay thông công đến đây thôi. Tạm biệt!
Ngày 1 tháng 6 năm 2024