Cách mưu cầu lẽ thật (28)
Chúng ta đã thông công rất nhiều nội dung về lẽ thật liên quan đến phương diện Đức Chúa Trời nhập thể, cũng đã thông công mấy lần về những nội dung cụ thể liên quan đến sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể rồi. Đối với nội dung về phương diện này, có phải các ngươi đã hiểu rõ thêm nhiều rồi không? (Thưa, phải.) Đối với sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, tức Đấng Christ, cũng như thực chất của Đấng Christ, có phải các ngươi đã hiểu sâu hơn rồi không? (Thưa, phải.) Vậy các ngươi cũng có thể buông bỏ được một số quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể rồi phải không? (Thưa, phải.) Nếu chỉ tìm hiểu đơn giản về một người nào đó, bất kể là tìm hiểu tâm tính của họ hay tìm hiểu phương diện làm người của họ, thì ngươi đại khái cũng chỉ tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của một người bình thường – tính cách và tính khí của họ, hoặc cách thức và phương pháp làm người, triết lý xử thế của họ, cùng với sự mưu cầu, một số hứng thú và sở thích của họ, hoặc một số vấn đề bẩm sinh tồn tại nơi họ. Cùng lắm ngươi cũng chỉ tìm hiểu về phương diện nhân tính của người này, chứ chẳng có chút gì liên quan đến lẽ thật. Đây là về chuyện tìm hiểu một người bình thường. Cho nên, bất kể ngươi tìm hiểu bất kỳ người nào hay loại người nào trong nhân loại, bất kể ngươi hiểu rõ bao nhiêu, hiểu sâu sắc thế nào hoặc nắm bắt có toàn diện về họ hay không, thì tất cả đều không liên quan đến lẽ thật. Nhưng tìm hiểu về Đức Chúa Trời nhập thể thì không như vậy, những chủ đề về tìm hiểu mọi phương diện của Đức Chúa Trời nhập thể thì đều liên quan đến lẽ thật. Sự nhập thể là một hình thức đặc biệt mà Đức Chúa Trời sử dụng theo nhu cầu công tác của Ngài, có quan hệ trực tiếp với mọi phương diện liên quan đến Đức Chúa Trời như thân phận, thực chất và tâm tính, v.v. của Ngài, nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể cũng là một phần trong việc nhận biết Đức Chúa Trời, và liên quan đến việc nhận biết Đức Chúa Trời, liên quan đến những lẽ thật về phương diện nhận biết Đức Chúa Trời mà người ta nên hiểu. Do đó, nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể là một phương diện lẽ thật mà người ta nhất định phải hiểu rõ và nhận biết khi đi theo Đức Chúa Trời để đạt đến việc nhận biết và thuận phục Ngài. Bởi vì những nội dung nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể và nhận biết các phương diện lẽ thật khác nhau mà Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ đều liên quan đến thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời nên hiểu và nên bước vào, cho nên không thể đem việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể đặt ngang hàng với việc nhận biết một người bình thường, một con người bại hoại được. Nguyên nhân không thể đặt ngang hàng là vì việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể có liên quan đến lẽ thật về việc nhận biết Đức Chúa Trời, và đây là một phần trong việc nhận biết Đấng Tạo Hóa. Bất kể phần nội dung này như thế nào, tóm lại nó liên quan đến việc nhận biết Đấng Tạo Hóa, liên quan đến việc nhận biết chính Đức Chúa Trời, đương nhiên cũng liên quan đến chuyện con người làm thế nào để buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời. Có thể nói rằng, khi ngươi hiểu rõ Đức Chúa Trời nhập thể và hiểu rõ lẽ thật về phương diện Đức Chúa Trời nhập thể rồi, thì ở mức độ rất lớn, ngươi đã có nhận thức về một phần thực chất và tâm tính của Đức Chúa Trời. Đương nhiên tương ứng với đó, ở mức độ rất lớn, ngươi cũng sẽ buông bỏ được rất nhiều quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời, tức là quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời trên trời và Đấng Tạo Hóa. Buông bỏ những quan niệm và tưởng tượng này ít nhất có thể khiến ngươi hiểu chính xác hơn và có nhận thức chân thực chuẩn xác hơn về Đức Chúa Trời. Vậy nhận thức và hiểu biết này có tác dụng gì? Tác dụng của chúng lớn đấy. Có lẽ khi chưa nhận biết Đức Chúa Trời, ngươi cảm thấy Đức Chúa Trời chính là Đấng mà người ta quen thuộc trong đầu óc, tâm tư hoặc trong quan niệm truyền thống, là Đấng mà người ta không nhìn thấy và không chạm đến được. Nhưng khi ngươi tìm hiểu và nhận biết sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, tìm hiểu và nhận biết tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, thì ngươi sẽ có nhận thức chân thực về Đức Chúa Trời. Nhận thức chân thực này có thể khiến ngươi thuận phục Đức Chúa Trời một cách chính xác và chân thực, chứ không phải sự thuận phục giả trong quan niệm và tưởng tượng. Đức tin và sự thuận phục của người ta trong quan niệm và tưởng tượng của mình, so với đức tin và sự thuận phục đối với Đức Chúa Trời sau khi có nhận thức chân thực về Ngài, thì cái nào chân thực và chính xác hơn? Các ngươi có phán đoán được không? Đức tin nảy sinh từ việc có nhận thức về Đức Chúa Trời thì không phải là đức tin trong quan niệm và tưởng tượng, mà là đức tin được xây dựng trên cơ sở là có nhận thức chân thực và chính xác về Đức Chúa Trời. Cho nên, đối với ngươi, đức tin này có thể khiến ngươi nắm bắt và hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời một cách chính xác hơn trong cuộc sống hiện thực, và trong mỗi hoàn cảnh hiện thực hoặc con người, sự việc và sự vật hiện thực, ngươi biết chính xác hơn về cách để hợp tâm ý Đức Chúa Trời, về cách làm nào là chính xác, là thực sự thuận phục Đức Chúa Trời, là có đức tin và sự ngưỡng vọng thực sự đối với Đức Chúa Trời. Bất kể xét từ phương diện nào, nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể thì không đơn giản như tìm hiểu và nhận biết một người bình thường, bởi vì trong chuyện này liên quan đến nhiều lẽ thật, chẳng hạn như thực chất của Đức Chúa Trời và thực chất của con người, loài thọ tạo và Đấng Tạo Hóa, v.v.. Trước đây Ta đã nêu một số ví dụ và nói đến một số lẽ thật về phương diện nhận biết Đức Chúa Trời. Người ta không nên xem những chủ đề này như những chủ đề bình thường, mà nên nhận biết về những chủ đề này như một phương diện lẽ thật. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể, xét cho cùng, là một thân xác mà Thần của Đức Chúa Trời thực sự hiện thực hóa trong đó, là một con người có thực chất thần tính, Ngài là đại diện của Đức Chúa Trời trên đất, cũng là sự bày tỏ của công tác Đức Chúa Trời làm trên đất. Xét về phương diện làm công tác và xét về thực chất của Ngài, thì Ngài hoàn toàn có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời. Mặc dù xét về hình thức thì có hạn chế, bề ngoài trông như Ngài không đủ để đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời, nhưng xét về thực chất của Ngài và tâm tính mà Ngài có, thì Ngài hoàn toàn có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời. Cho nên xét về điểm này, đối với các phương diện lẽ thật khác nhau liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể, người ta đều nên tiếp cận một cách nghiêm túc và tìm hiểu một cách kỹ càng. Chỉ khi tiếp cận một cách nghiêm túc và để tâm tìm hiểu, ngươi mới có thể thực sự hiểu rõ Đức Chúa Trời. Chỉ khi thực sự hiểu rõ Đức Chúa Trời trên đất, ngươi mới có thể hiểu rõ Đức Chúa Trời trên trời ở mức độ rất lớn và hiểu rõ Đấng Tạo Hóa ở mức độ rất lớn. Đấng Tạo Hóa – Đức Chúa Trời phán lời ở trên trời cũng như ở giữa vũ trụ và vạn vật như thế nào, dùng phương thức nào để đối đãi với con người, dùng thái độ nào để đối đãi với con người, Ngài làm việc như thế nào, tâm tư của Ngài như thế nào, v.v., những vấn đề liên quan đến tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời trong nhiều phương diện này là điều mà con người căn bản không nhìn thấy được. Nhưng khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và đến trên đất, trở thành một người bình thường, trở thành một con người có hình dạng, có xương có thịt, thì tâm tính và thực chất của Ngài là điều mà người ta có thể hiểu được trong thời gian Ngài làm công tác và qua lại, giao tiếp với con người. Thông qua đủ mọi mặt lời nói, cử chỉ và hỷ nộ ai lạc của Ngài, người ta có thể hiểu rõ rốt cuộc Đức Chúa Trời là thế nào, hình thức hỷ nộ ai lạc của Đức Chúa Trời là thế nào, phương thức, thái độ và nguyên tắc làm việc của Đức Chúa Trời là thế nào. Người ta sẽ hiểu Ngài một cách cụ thể hơn, chạm đến, nhìn thấy và nghe thấy Ngài một cách cụ thể hơn. Như vậy càng có lợi cho việc ngươi hiểu rõ Đức Chúa Trời trên trời. Với Đức Chúa Trời nhập thể thì người ta có thể nhìn thấy và chạm đến Ngài, có thể tận tai nghe thấy những lời Ngài phán, có thể tận mắt chứng kiến nguyên tắc và phương thức Ngài xử lý sự việc. Như vậy thì tương đương với việc ngươi đích thân cảm nhận được lời nói, công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, và có nhận thức về Đức Chúa Trời nhập thể, vậy thì ngươi cũng có sự hiểu biết và nhận thức nhất định về Đức Chúa Trời trên trời. Nếu hiểu được những lẽ thật mà Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ, thì ngươi sẽ có thể nhận biết tâm tính của Đức Chúa Trời, vậy điều ngươi nhận biết chính là phương diện thực chất này của Đức Chúa Trời trên trời. Cho nên chuyện Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác và phán lời trên đất như thế nào, bộc lộ những tâm tính nào, có thực chất như thế nào, ở mức độ rất lớn đã để ngươi trong điều kiện hữu hạn này được nhìn thấy chính xác và tận tai nghe thấy, hoặc hiểu rõ và nhận biết được, lời nói và cử chỉ cùng phương thức phán lời và làm công tác của Đức Chúa Trời, thậm chí là tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời. Trước đây Ta đã nói qua một số lẽ thật về phương diện Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng chưa bao giờ nói quá cụ thể. Lần này Ta đã nói cụ thể rất nhiều, hy vọng sau khi nghe xong, các ngươi đừng xem phương diện lẽ thật này như lẽ thật thông thường về phương diện thực hành hoặc lẽ thật thông thường về phương diện nhận biết các loại người, mà phải xem đây là lẽ thật về phương diện nhận biết Đức Chúa Trời. Bởi vì bất kể trên lý luận hay trong thực tế, Đức Chúa Trời nhập thể và Đức Chúa Trời trên trời là một, Đức Chúa Trời nhập thể là sự bày tỏ và thể hiện của Đức Chúa Trời ở trên đất, cũng là Đấng được giao phó công tác của Đức Chúa Trời trên đất. Bất kể nói theo cách nào, xét về thực chất và tâm tính, thì Con người nhập thể này trước hết là một và tương hợp với Đức Chúa Trời trên trời, Đấng Tạo Hóa. Cả hai đã là một, thì nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể chính là một con đường để nhận biết Đức Chúa Trời trên trời, đương nhiên nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể cũng là cơ hội tốt nhất và điều kiện có lợi nhất để nhận biết Đức Chúa Trời trên trời. Có phải vậy không? (Thưa, phải.) Các ngươi nói xem, Ta có nói phóng đại lên không? (Thưa, không.) Có phù hợp với thực tế không? (Thưa, phù hợp với thực tế.)
Có người nói: “Đức Chúa Trời trên trời có thể tạo dựng vạn vật, có thể tể trị vạn vật, có thể tể trị số phận của nhân loại. Đức Chúa Trời nhập thể có thể làm vậy không? Đức Chúa Trời nhập thể và Đức Chúa Trời trên trời đã là một và Đức Chúa Trời nhập thể đã có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời, vậy Ngài có thể tạo dựng vạn vật không? Có thể tể trị vạn vật không?”. Có người đưa ra quan điểm như vậy, các ngươi giải thích thế nào? Các ngươi nói xem, Đức Chúa Trời nhập thể có thể làm công tác tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật hay không? (Thưa, có thể.) Ngươi dựa vào đâu mà nói là “có thể”? Nói thử quan điểm của ngươi xem, ngươi nghĩ như thế nào? (Thưa, vì Đức Chúa Trời nhập thể cũng là chính Đức Chúa Trời, nên Ngài có thể làm công tác tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật, chỉ là Đức Chúa Trời nhập thể có công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể phải làm, Ngài không làm những công tác kia.) Đây cũng là một cách nói. Xét về lý luận thì cách nói này có đúng không? Có chỗ nào lệch lạc, sai lầm không? (Thưa, không có.) Cách nói này nghĩa là Đức Chúa Trời nhập thể chắc chắn có thể làm công tác tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật, chỉ là Ngài có làm hay không mà thôi. Ngài không làm thì ngươi không thấy được, nếu làm thì Ngài tuyệt đối có thể làm. Lý luận này đúng, nhưng có phải nó có khoảng cách so với chuyện nhận biết về thực chất cũng như sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể mà chúng ta đang thông công hay không? (Thưa, phải.) Vậy các ngươi ngẫm nghĩ thêm đi, nên thông công thế nào mới có thể giải quyết được vấn đề này? (Thưa Đức Chúa Trời, con muốn bổ sung một chút. Thực chất của Đức Chúa Trời là lẽ thật, Thần của Đức Chúa Trời có thể bày tỏ lẽ thật, Đức Chúa Trời nhập thể cũng chủ yếu bày tỏ lẽ thật. Thẩm quyền của lẽ thật có thể tể trị hết thảy và cai quản hết thảy. Con thấy điều này có thể cho thấy rằng Đức Chúa Trời nhập thể và Đức Chúa Trời trên trời là một, và Đức Chúa Trời nhập thể cũng có thể tể trị vạn vật.) Cách nói này có đúng không? Cách nói thì đúng, nhưng vẫn chưa nói đến căn nguyên của vấn đề và chưa giải quyết vấn đề thực tế, vậy chứng tỏ cách nói này là một dạng lý luận mà thôi. Xét về hình thức của Đức Chúa Trời nhập thể, thì Ngài chịu sự hạn chế của điều kiện bẩm sinh và bản năng của xác thịt, nhìn bề ngoài dường như Ngài không thể làm việc giống như Thần của Đức Chúa Trời. Thực ra không phải là Ngài không thể làm, mà là vì Ngài đã trở nên xác thịt, Ngài đến để làm công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể nên gánh vác, còn những công tác không liên quan đến chức trách của Ngài thì Ngài không làm. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể có mặt bình thường và thực tế, nên xét về bề ngoài, khi chịu sự hạn chế của điều kiện bẩm sinh trong xác thịt và sự hạn chế của đủ loại nguyên nhân khách quan, dường như Ngài không thể sánh nổi Đức Chúa Trời trên trời. Nhưng xét về thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể thì Ngài có thể tạo dựng vạn vật, cũng có thể cai quản vạn vật. Bởi vì thực chất của Ngài là thực chất của Đức Chúa Trời và sự sống của Ngài là sự sống của Đức Chúa Trời, cho nên Ngài có thể làm được những việc đó. Khi nãy các ngươi đều chưa nói đến căn nguyên của vấn đề này, chưa nói đến trọng điểm của vấn đề này. Vậy trọng điểm của vấn đề này nằm ở đâu? Đức Chúa Trời nhập thể có thể tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật, đây là sự thật, không phải một dạng lý luận, cũng không phải chỉ là một cách nói, càng không phải là một kiểu quan niệm của con người. Vậy việc Đức Chúa Trời nhập thể có thể làm công tác tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật được biểu hiện ở đâu? Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể có thực chất của Đức Chúa Trời và sự sống của Đức Chúa Trời, cho nên Ngài có thể bày tỏ lời của Đức Chúa Trời. Xét về lời của Đức Chúa Trời, thì lời của Đức Chúa Trời mang thẩm quyền và quyền năng, có thể hoàn thành hết thảy, có thể tạo dựng hết thảy, đương nhiên cũng có thể tể trị hết thảy. Đây có phải là sự thật không? (Thưa, phải.) Chính Ngài bày tỏ lời thì chính Ngài hoàn thành, hơn nữa không có bất kỳ thế lực nào ngăn cản nổi. Ngươi thấy đấy, mọi lời do Đức Chúa Trời nhập thể, con người bình thường này, phán ra, bất kể là lời nào, bất kể nói về phương diện nào, đều mang thẩm quyền và quyền năng. Một mặt là vậy. Mặt khác, những lời Ngài phán, bất kể mất bao nhiêu năm, đều lần lượt được hoàn thành và ứng nghiệm, không có lời nào hóa hư không, giống như nguyên văn chính lời Đức Chúa Trời phán: “Đức Chúa Trời đã phán thì sẽ giữ lời, lời đã giữ thì sẽ được hoàn thành, đã hoàn thành thì sẽ tồn tại mãi”. Lời này là sự giải thích chân thực và cụ thể nhất về việc Đức Chúa Trời tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật. Từ câu đầu tiên Ngài phán ra cho đến tận hôm nay, mỗi một lời đều dần dần được ứng nghiệm và hoàn thành ở những mức độ khác nhau, tại những ngóc ngách khác nhau trên thế giới và trong những thời kỳ khác nhau. Xét từ điểm này, Đức Chúa Trời nhập thể có làm được chuyện Đức Chúa Trời tể trị hết thảy không? (Thưa, có thể.) Các ngươi đã thấy được sự thật của phương diện này rồi phải không? (Thưa, đã thấy.) Đây là một phương diện của sự thật. Một phương diện khác nữa, hễ ngươi là người tiếp nhận giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời, đến trước Đức Chúa Trời và có thể tiếp nhận những lời này, thì những lời mà Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ này đều có thể trở thành sự sống của ngươi, thay đổi nhân sinh quan của ngươi và thay đổi phương hướng làm người của ngươi. Người tiếp nhận những lời này thì bị những lời này phán xét, hành phạt, vạch rõ, định tội, thậm chí rủa sả, nhưng cuối cùng họ đều bị những lời này chinh phục. Sau khi bị những lời này chinh phục, những người mưu cầu lẽ thật cuối cùng đạt được những lời này, lời Đức Chúa Trời và lẽ thật sắp trở thành sự sống của họ, khi đó, họ sẽ trở thành một nhân loại mới. Một nhân loại mới đã ra đời, ngươi nói xem, đây có phải là kết quả đạt được bởi lời Đức Chúa Trời không? (Thưa, phải.) Mặc dù nhân loại mới này và nhân loại từ thời A-đam, Ê-va đều là do Đức Chúa Trời tạo dựng, nhưng hình thức và phương thức tạo dựng không giống nhau. Sự ra đời của nhân loại mới này là do Đức Chúa Trời dùng lời để một lần nữa tạo dựng một nhân loại. Vậy ngươi nói Đức Chúa Trời nhập thể dùng lời để tạo dựng nhân loại, như vậy có thể nói là Đức Chúa Trời nhập thể có thể tạo dựng vạn vật không? (Thưa, có thể.) Những người hiện đang tiếp nhận giai đoạn công tác này, tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, tiếp nhận sự phán xét, hình phạt của Đức Chúa Trời và được làm tinh sạch, so với nhân loại thời A-đam, Ê-va hoặc nhân loại bại hoại, là hai loại người hoàn toàn khác nhau, hai loại người có sự sống khác nhau. Những người tiếp nhận lời Đức Chúa Trời làm sự sống là một nhân loại mới, họ đã thoát khỏi bản tính cũ của nhân loại bại hoại, họ có lời Đức Chúa Trời làm sự sống, trở thành một nhân loại mới, và sắp bước vào một thời đại mới, một kỷ nguyên mới. Xét từ điểm này, có thể nói rằng xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể lại tạo dựng một nhân loại mới nữa rồi hay không? Ngài dùng lời để tạo dựng một nhân loại mới có lời Đức Chúa Trời làm sự sống. Đây là một phương diện, đây là công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm. Xét từ hiệu quả và kết quả cuối cùng của công tác Ngài làm, thì Ngài có thể làm công tác tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật. Sở dĩ Ngài có thể làm công tác này là vì bên trong xác thịt này có Thần của Đức Chúa Trời ngự, có thực chất thần tính, có quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời, đương nhiên càng có lẽ thật mà Đức Chúa Trời có. Đức Chúa Trời trên trời, Đấng Tạo Hóa, đã dùng lời để tạo dựng vạn vật, Ngài phán, liền có, Ngài lệnh, liền thành. Và giai đoạn công tác cuối cùng mà Đức Chúa Trời nhập thể làm vừa vặn giống với công tác của Đức Chúa Trời trên trời dùng lời để hoàn thành hết thảy và dùng lời tạo dựng vạn vật, tính chất của chúng là giống nhau. Mặc dù xác thịt mà Đức Chúa Trời nhập thể để làm giai đoạn công tác này trông bề ngoài như một người bình thường và thông thường, không có công trạng kinh thiên động địa và việc làm kinh thiên động địa nào, nhưng những lời Ngài đã phán và những lẽ thật Ngài đã bày tỏ trong bấy nhiêu năm qua đã thu phục được một nhóm người, cũng đã từng bước nhào nặn lời Đức Chúa Trời và lẽ thật vào bên trong con người. Chẳng bao lâu nữa, một nhân loại mới có lời Đức Chúa Trời làm sự sống sẽ ra đời, đây chính là công tác do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện. Là công tác gì? Chính là dùng lời để hoàn thành giai đoạn công tác cuối cùng của Đức Chúa Trời, nhào nặn lời vào bên trong con người, cũng dùng lời để tạo dựng một nhân loại mới một lần nữa. Đây là một phương diện. Còn một phương diện nữa là từ khi Đức Chúa Trời nhập thể lần thứ hai để làm công tác, thì giai đoạn công tác thứ hai của Đức Chúa Trời, tức công tác của Thời đại Ân điển, đã được tuyên bố kết thúc và được đặt dấu chấm hết. Thời đại Ân điển đã kết thúc, vậy công tác của Đức Thánh Linh trong Thời đại Ân điển và mọi công tác Đức Chúa Trời thực hiện trong Thời đại Ân điển cũng được tuyên bố kết thúc. Toàn bộ giới tôn giáo, xét về hình thức tôn giáo và định nghĩa của Đức Chúa Trời về nó, cũng đã trở thành quá khứ. Khi Đức Chúa Trời bắt đầu làm công tác phán xét trong thời kỳ sau rốt thì công tác của Đức Thánh Linh trong các hội thánh và đoàn thể của Thời đại Ân điển cũng được thu hồi. Nghĩa là từ khoảnh khắc Đức Chúa Trời nhập thể xuất hiện và làm công tác, cất tiếng và phán lời, thì toàn bộ giới tôn giáo trong mắt Đức Chúa Trời đã bị xác định tính chất là địa điểm tôn giáo và tập thể tôn giáo, chứ không còn là nơi Đức Chúa Trời công tác, cũng không còn là đối tượng được Đức Chúa Trời quan tâm chăm sóc nữa. Đức Chúa Trời đã rời khỏi họ, nghĩa là Đức Thánh Linh không còn công tác trên họ nữa. Bất kể là Cơ Đốc giáo, Công giáo hay Do Thái giáo, v.v., tất cả đều bị xác định tính chất là tôn giáo. Đức Thánh Linh không còn công tác giữa họ nữa, công tác của Đức Chúa Trời đã hoàn toàn bước vào một thời đại mới, một kỷ nguyên mới rồi. Nghĩa là từ khi Đức Chúa Trời nhập thể lần thứ hai và chính thức bắt đầu làm công tác, bắt đầu bày tỏ lời Đức Chúa Trời, thì Thời đại Ân điển đã hoàn toàn kết thúc. Mọi công tác và hoạt động trong giới tôn giáo cũng được tuyên bố kết thúc, bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể đã bắt đầu bày tỏ lời, bắt đầu bày tỏ mọi phương diện lẽ thật của giai đoạn công tác này. Việc tuyên bố kết thúc này cũng có nghĩa là toàn thể nhân loại đã có cách nói mới về tín ngưỡng, hình thức tôn giáo và sự xác định tính chất các danh xưng tôn giáo. Thời đại đó đã qua, tức là Thời đại Ân điển đã hoàn toàn kết thúc. Sau khi có cách nói mới này thì có thể xác định rằng Cơ Đốc giáo hay Công giáo không còn là tôn giáo chủ chốt được tôn sùng giữa nhân loại và dẫn dắt xu hướng tín ngưỡng của nhân loại nữa, thay vào đó, chúng đã trở thành quá khứ. Chuyện này là bởi Đức Chúa Trời nhập thể đã bắt đầu dẫn dắt nhân loại sắp bước vào thời đại mới tiếp theo và sắp bước vào một thời đại mới. Từ khi Đức Chúa Trời nhập thể bắt đầu bước vào thời đại tiếp theo, Cơ Đốc giáo đã trở thành quá khứ giữa toàn thể nhân loại, trở thành một tôn giáo cũ. Đương nhiên, từ khi Đức Chúa Trời nhập thể bắt đầu làm công tác, bắt đầu bày tỏ lời, thì chẳng biết từ lúc nào, toàn thể nhân loại đã được đưa vào một thời đại mới, một kỷ nguyên mới. Bất kể là về những chủ đề hay từ ngữ thịnh hành liên quan đến tôn giáo, hay những xu hướng trong các lĩnh vực khác nhau, toàn thể nhân loại cũng phát triển theo một phương hướng mới và được đưa vào một kỷ nguyên mới. Đương nhiên, những lời Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ, công tác Ngài làm, cùng các thuật ngữ thuộc linh và câu nói đang thịnh hành trong hội thánh, hoặc một vài tư tưởng và quan điểm liên quan đến tín ngưỡng, sẽ ảnh hưởng đến nhân loại này trong một thời kỳ, giống như Cơ Đốc giáo đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của toàn thể nhân loại trong hai nghìn năm qua. Theo sự mở rộng công tác của Đức Chúa Trời và sự mở rộng phúc âm, thì những lời Đức Chúa Trời nhập thể phán hoặc một số câu nói, tư tưởng và quan điểm trong phạm vi giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời trong hội thánh sẽ từng bước hướng dẫn và dẫn dắt nhân loại trong thời đại tiếp theo, dẫn hướng đời sống của nhân loại trong thời đại tiếp theo, đây là xu thế. Đương nhiên, khi Đức Chúa Trời nhập thể bắt đầu giai đoạn công tác này, do sự chuyển dời công tác của Đức Thánh Linh, giới tôn giáo đã mất đi công tác của Đức Thánh Linh và rơi vào trạng thái hoang vu. Gần như có thể nói rằng giới tôn giáo đã bị giai đoạn công tác này đào thải và làm cho tan rã. Nghĩa là đối với toàn thế giới, nhân loại và tín ngưỡng của nhân loại, sự đến của Đức Chúa Trời nhập thể và sự bắt đầu giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời vừa là một thách thức, vừa là một sự định tội, đương nhiên cũng là một dạng thay đổi, phải vậy không? (Thưa, phải.) Từ khi Đức Chúa Trời nhập thể bắt đầu bày tỏ lời, bắt đầu làm giai đoạn công tác này, thì phương hướng tín ngưỡng của toàn thể nhân loại đã bị thay đổi triệt để, giới tôn giáo cũng bị thay đổi triệt để, đây đều là sự thật. Những lời Đức Chúa Trời nhập thể phán này và đủ mọi chủ đề liên quan đến lẽ thật này, về sau đều sẽ từng bước truyền đến mọi nước và mọi nơi trên thế giới, truyền đến mọi lĩnh vực và mọi đoàn thể tôn giáo. Những tư tưởng và quan điểm khác nhau được đề cập trong những lời này sắp ảnh hưởng đến giới tôn giáo và ảnh hưởng đến nhân loại này, đương nhiên cũng sắp thay đổi nhân loại này, sắp thay đổi giới tôn giáo, thay đổi hiện trạng của nhân loại và hiện trạng của giới tôn giáo. Như vậy tương đương với nói rằng giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời chính là một lần nữa dùng lời của Ngài, dùng những quan điểm Ngài bày tỏ về các loại sự vật, để gây ảnh hưởng đến toàn bộ nhân loại và giới tôn giáo. Xét về những lời này, chúng có đầy đủ thẩm quyền, cũng có đầy đủ quyền năng để thay đổi nhân loại, thế giới này và giới tôn giáo, để phân nhân loại theo loại của mình và chia thành các nhóm, cũng để tuyên bố kết cục và đích đến của nhân loại. Đương nhiên, cùng với việc Đức Chúa Trời bày tỏ tất cả những lời này, thì Thần của Đức Chúa Trời cũng đang không ngừng thay đổi mọi loại tình hình và tể trị vạn vật. Bất kể những lời Đức Chúa Trời nhập thể phán này đi đến đâu, bất kể những người nghe và thấy tiếp nhận hay chống đối, thì những lời Đức Chúa Trời nhập thể phán này đều khuấy động họ, hễ ai tiếp xúc với những lời này đều từng bước được tỏ lộ và phân chia theo loại. Nghĩa là trước những lời này, các loại người – người yêu thích lẽ thật, người chán ghét lẽ thật, nhân loại bại hoại, ma quỷ, động vật, xác chết biết đi, những người có mọi loại mưu cầu khác nhau, những người có mọi loại tư tưởng và quan điểm khác nhau, những người mang các loại quan niệm khác nhau, mang theo các loại dã tâm và dục vọng khác nhau mà tin Đức Chúa Trời – bộ mặt thật của họ đều bị lộ ra hết. Như vậy người ta đều được phân theo loại của mình, chiên của Đức Chúa Trời yêu thích lẽ thật thì trở về nhà Đức Chúa Trời, những người không phải chiên của Đức Chúa Trời và không yêu thích hay tiếp nhận lẽ thật thì bị chặn lại ngoài cửa, bị định tội và đào thải. Những người bị định tội và đào thải này sẽ sớm phải chờ đợi sự phán xét của ngày trọng đại trong lời Đức Chúa Trời phán, cũng chính là việc trừng phạt kẻ ác trong lời Đức Chúa Trời phán. Ảnh hưởng hiện tại và về sau trên nhân loại của việc Đức Chúa Trời làm giai đoạn công tác này và phán những lời này đều là kết quả đạt được bởi lời Đức Chúa Trời, đều đạt được nhờ uy lực của lời Đức Chúa Trời. Những lời này đều là công tác Đức Chúa Trời làm và lời Đức Chúa Trời phán trong thời gian nhập thể. Vậy các ngươi nói xem, từ những ảnh hưởng này hoặc từ đủ mọi kết quả khác nhau đã đạt được và người ta có thể nhìn thấy, thì xét về thực chất và thân phận của Đức Chúa Trời nhập thể, liệu Ngài có thể làm công tác tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật hay không? (Thưa, có thể.) Cái “có thể” này không phải là một đạo lý, không phải là một cách nói nữa, phải không? (Thưa, phải.) Mặc dù xét về hình thức thì Đức Chúa Trời nhập thể không thần bí khó lường và không đầy quyền năng như Đức Chúa Trời trên trời hay như Thần của Đức Chúa Trời, nhưng xét về thực chất và sự sống của Ngài, xét về những lời Ngài bày tỏ, thì Ngài hoàn toàn có thể tạo dựng một nhân loại mới, hoàn toàn có thể thay đổi thế giới này và nhân loại này, cũng hoàn toàn có thể tể trị nhân loại này. Chuyện này là bởi việc Đức Chúa Trời nhập thể dùng lời để hoàn thành hết thảy thì hoàn toàn tương hợp và hoàn toàn thống nhất với việc Đức Chúa Trời trên trời dùng lời để hoàn thành hết thảy. Về hình thức và vẻ bề ngoài của Đức Chúa Trời nhập thể, có vẻ như Ngài không thể làm công tác mà Đức Chúa Trời trên trời làm, không có thẩm quyền và quyền năng của Đức Chúa Trời trên trời. Nhưng xét về thực chất và sự sống của Ngài thì Ngài có thể làm công tác dùng lời để hoàn thành hết thảy, dùng lời để tạo dựng hết thảy và dùng lời để thay đổi hết thảy, phải vậy không? (Thưa, phải.) Các ngươi xem, hiện nay bất kể là giới tôn giáo hay thế giới này, chuyện chúng có hình thức như thế nào và hiện đang ở trạng thái như thế nào đều có liên quan đến lời Đức Chúa Trời. Một mặt, như vậy là ứng nghiệm lời Đức Chúa Trời phán, mặt khác, chúng cũng bị đào thải bởi Đức Chúa Trời bày tỏ những lời mới và lẽ thật. Bất kể xét từ phương diện nào, bất kể trạng thái hiện tại của chúng như thế nào, thì chúng đều được thay đổi bởi lời Đức Chúa Trời, nảy sinh bởi lời Đức Chúa Trời, có liên quan đến những lời Đức Chúa Trời bày tỏ và nội dung đủ mọi mặt mà Ngài phán. Theo sự mở rộng của phúc âm, theo sự truyền bá rộng hơn của lời Đức Chúa Trời, thì có thêm nhiều người – những người đến từ mọi nước trên thế giới, mọi dân tộc, mọi lĩnh vực khác nhau – đến tiếp nhận giai đoạn công tác mới này của Đức Chúa Trời. Như vậy sẽ có thêm nhiều người tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, sẽ có thêm nhiều người được thay đổi bởi lời Đức Chúa Trời, cũng sẽ có thêm nhiều người đạt được lời Đức Chúa Trời và trở thành một nhân loại mới. Đương nhiên, theo sự mở rộng của phúc âm, theo sự truyền bá rộng hơn của lời Đức Chúa Trời, trong tương lai không xa – tương lai không xa này chắc chắn sẽ ngắn hơn rất nhiều so với hai nghìn năm của Thời đại Ân điển – đức tin của nhân loại, tư tưởng và quan điểm của nhân loại đối với đủ mọi sự việc cũng sắp được thay đổi bởi lời Đức Chúa Trời. Những người không tin hoặc không thừa nhận lời Đức Chúa Trời phán, và những người không thừa nhận Đức Chúa Trời, cũng sẽ chịu ảnh hưởng của những lời này ở những mức độ khác nhau. Xét từ những kết quả này, cuối cùng vẫn quy về sự thật của lẽ thật rằng lời Đức Chúa Trời nhập thể phán có thể hoàn thành hết thảy và thay đổi hết thảy, phải vậy không? (Thưa, phải.)
Xét từ mấy phương diện nội dung chúng ta đã thông công, thì công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm và những lời Đức Chúa Trời nhập thể phán có khoảng cách so với công tác và lời của Đức Chúa Trời trên trời không? (Thưa, không có.) Đức Chúa Trời nhập thể có thể làm công tác tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật, chuyện này so với sự thật rằng Đức Chúa Trời trên trời tạo dựng vạn vật và tể trị vạn vật, thì không mâu thuẫn, không có khoảng cách, cũng không có sự khác biệt, điểm này hẳn phải chắc chắn rồi. Sự chắc chắn này không phải một kiểu lý thuyết, cũng không phải một quan niệm hoặc tưởng tượng, càng không phải một cách nói dễ nghe, mà đây là nói dựa trên sự thật. Còn một điểm quan trọng nữa, đó là bất kể Đức Chúa Trời nhập thể phán gì, bất kể Ngài muốn làm công tác như thế nào, thì một mặt, bản thân lời Ngài đã có thẩm quyền và quyền năng, có thể đạt được kết quả là hoàn thành hết thảy. Mặt khác, ngay khi lời Ngài được phán ra thì Thần của Đức Chúa Trời cũng đang hành động đồng thời mà hoàn thành hết thảy những điều này, đây là điều mà bất kỳ con người nào cũng không thể đạt đến bằng lời nói hoặc việc làm của mình. Bất kỳ một người bình thường nào, ví dụ như một nhà tiên tri, một danh nhân, một chuyên gia, bất kể họ suy đoán hay dự đoán chuyện gì, nói về hiện tượng gì, hoặc công bố báo cáo gì, họ đều không thể nói rõ cụ thể sự việc sẽ phát triển thế nào và kết quả sẽ ra sao, họ cũng không dám chắc chắn một trăm phần trăm mà nói rằng, “Lời này chắc chắn có thể được hoàn thành, chắc chắn sẽ trở thành sự thật”, đây là điều con người không thể đạt đến. Nhưng về phần Đức Chúa Trời, bởi vì mỗi một lời Đức Chúa Trời nhập thể phán đều là sự bày tỏ tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời, đều đến từ Đức Chúa Trời, cho nên bất kể lời Ngài phán về chuyện gì đều chắc chắn sẽ được hoàn thành và ứng nghiệm. Một mặt đây là quyền năng và thẩm quyền của lời Đức Chúa Trời, mặt khác, ngươi cũng nên nhận biết rằng đây là Thần của Đức Chúa Trời đang làm việc. Như vậy có phải cũng có thể nói rằng trong khi Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác thì Thần của Đức Chúa Trời cũng đang làm công tác, rằng xác thịt và Thần không thể tách rời và là một hay không? (Thưa, phải.) Vậy ngươi nói xem, khi Đức Chúa Trời nhập thể phán lời thì xác thịt này đang phán lời hay Thần của Đức Chúa Trời đang phán lời? Ngươi có thể nói rõ chuyện này không? Là Đức Chúa Trời đang bày tỏ lời, đúng không? Chính vì là Đức Chúa Trời đang bày tỏ lời, cho nên lời Ngài phán đều có thể được hoàn thành, đều đang được ứng nghiệm. Đã thông công nhiều như vậy rồi, có phải vấn đề chúng ta vừa nói lúc nãy đã được giải quyết rồi không? (Thưa, phải.) Các ngươi nói xem, lời Đức Chúa Trời hoàn thành hết thảy và Đức Chúa Trời dùng lời để tạo dựng vạn vật, đây có phải là lẽ thật không? Có phải là sự thật không? (Thưa, phải.) Đây là lẽ thật, cũng là sự thật. Cho nên kết quả đạt được do công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm không phải điều mà một người bình thường có thể đạt được. Tính chất và thực chất của công tác Ngài làm và những lời Ngài phán không phải là tính chất và thực chất trong lời của một người bình thường. Nếu hỏi, “Con người có thể tạo dựng vạn vật, tể trị vạn vật và hoàn thành hết thảy không?”, thì câu trả lời chắc chắn là “Không thể!”. Nếu hỏi, “Vậy Đức Chúa Trời nhập thể có thể tạo dựng vạn vật, tể trị vạn vật và hoàn thành hết thảy không?”, thì không thể do dự, mà nên nói chắc chắn rằng “Có thể!”. Lời này không phải đạo lý, mà là lẽ thật, là sự thật.
Trước đây, khi “Lời xuất hiện trong xác thịt” mới chỉ công bố quyển thứ nhất và rất nhiều người đi rao truyền phúc âm, đã có không ít người trong giới tôn giáo đọc lời Đức Chúa Trời xong thì tiếp nhận bước công tác này của Đức Chúa Trời, và giới tôn giáo bị tan rã hoàn toàn. Hiện nay, quyển thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy đều đã được công bố, sau đó được rao truyền đến mỗi một ngóc ngách, mỗi một địa điểm tôn giáo của mọi chủng tộc và mọi nước. Khi những lời này được công khai cho toàn thể nhân loại, thì các ngươi nói xem, chuyện này sẽ có hiệu quả như thế nào? Đây sẽ là một cảnh tượng như thế nào? Nhân loại này sẽ không giống trước nữa, phải không? (Thưa, phải.) Trong một đợt mở rộng phúc âm quy mô lớn vào năm nào đó ở Trung Quốc đại lục, có những người bất chấp nguy hiểm đi rao truyền phúc âm khắp nơi, trên đường phố, trong nhà máy và các làng mạc. Lúc đó, người tiếp nhận phúc âm thật sự rất nhiều. Khi “Lời xuất hiện trong xác thịt” mới được phát biểu đến quyển thứ nhất, đã có rất nhiều người tin và thừa nhận đây là con đường thật. Vì sự đàn áp, bắt bớ và bách hại điên cuồng của con rồng lớn sắc đỏ mà có những người đã thừa nhận đây là con đường thật nhưng không dám tiếp nhận, tuy vậy lời Đức Chúa Trời vẫn được truyền đi khắp Trung Quốc đại lục, các tỉnh, thành phố và huyện đều xuất hiện Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng. Chuyện này khiến con rồng lớn sắc đỏ kinh hồn bạt vía, ra sức đàn áp và bắt bớ, còn mạnh miệng tuyên bố: “Ngày nào chưa trừ diệt, ngày đó chưa rút quân”. Nhưng không ai ngờ rằng mười năm sau, lời Đức Chúa Trời đã mở rộng đến mọi nước và mọi nơi trên thế giới. Đặc biệt là ở Philippines tại châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, cả châu Âu, châu Phi, đều thấy công tác phúc âm không ngừng được rao truyền rộng rãi. Khi rao truyền phúc âm ở đại lục có một thuật ngữ gọi là “truyền đạo tập thể”, tức là đồng thời rao truyền phúc âm cho mấy người hoặc mấy chục người, đem lại hiệu quả đặc biệt tốt. Về sau vì sự đàn áp và bắt bớ điên cuồng của con rồng lớn sắc đỏ, mà phương thức này bị gián đoạn, nhưng lại nổi lên ở một số quốc gia hải ngoại. Ở một số quốc gia châu Á, họ không gọi là “truyền đạo tập thể”, mà gọi là “mở rộng đến làng, mở rộng đến trường học, mở rộng đến nhà máy”, thậm chí mở rộng đến cơ quan chính phủ, đến đồn cảnh sát, đến đơn vị quân đội. Sau đó cũng xuất hiện cảnh tượng tương tự, là có rất nhiều người tiếp nhận phúc âm. Toàn thể nhân loại, bất kể là người trong ngành nghề nào, bất kể thuộc tập thể nào, cũng bất kể thuộc dân tộc nào, họ đều sống trong bóng tối, sống trong sự bất lực và hoang mang, không biết nên sống thế nào, không biết nên làm người thế nào. Nhân loại cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi này không phải một hình thức, cũng không phải một dạng nghi thức. Đúng hơn thì sự cứu rỗi này cần lời Đức Chúa Trời, cần sự dẫn dắt của lời Đức Chúa Trời, cần sự hướng dẫn và khai sáng của lời Đức Chúa Trời, cần Đức Chúa Trời dùng lời lẽ rõ ràng để chỉ ra phương hướng và con đường cho con người, cũng dạy con người nên làm người thế nào, nên làm dạng người nào, nên đi con đường ra sao, gặp mỗi một chuyện thì nên tuân theo nguyên tắc như thế nào. Nhân loại này quá cần những lẽ thật này. Cho nên khi những người rao truyền phúc âm mở rộng đến làng, đến thị trấn, đến trường học, đến nhà máy, đến đơn vị quân đội và đến đồn cảnh sát, họ đọc một số lời Đức Chúa Trời có liên quan, còn làm chứng về ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời, thì đa số mọi người đều sẵn lòng nghe, sẵn lòng tiếp nhận, đồng thời cũng muốn tham gia đời sống hội thánh, chỉ là điều kiện của họ lúc đó không cho phép, họ chịu một số hạn chế. Nhưng xét từ những hiện tượng này trong việc mở rộng phúc âm, thì nhân loại này sống vô cùng đáng buồn và đáng thương. Họ cần sự hướng dẫn của lời Đức Chúa Trời, chỉ có lời Đức Chúa Trời mới có thể đem lại phương hướng và mục tiêu cho nhân loại này, có thể khiến nhân loại này sống tốt hơn, có thể khiến nhân loại này tiếp tục tồn tại, không còn chịu sự khổ hại của Sa-tan và các trào lưu tà ác nữa. Nếu toàn thể nhân loại đều tiếp nhận những lời này của Đức Chúa Trời, đều tiếp nhận sự cung ứng của Ngài và sự hướng dẫn của lời Ngài, thì các ngươi nói xem, chẳng phải nhân loại này sẽ sống rất hạnh phúc sao? (Thưa, phải.) Có một điều chắc chắn, nếu tiếp nhận sự cung ứng và hướng dẫn của lời Đức Chúa Trời, thì nhân loại này sẽ sống trong phúc lành của Đức Chúa Trời và không còn chịu sự khổ hại của Sa-tan nữa, vậy kết cục của nhân loại này sẽ khác với kết cục của nhân loại bại hoại hiện nay. Chẳng phải là vậy sao? (Thưa, phải.) Có phải các ngươi đã nghe qua những tình hình rao truyền phúc âm này rồi phải không? (Thưa, phải.) Người đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm và đã đọc những lời này của Đức Chúa Trời lâu dài thì trong lòng chỉ cảm thấy: “Đây là lời Đức Chúa Trời, những lời này thật tốt, những lời này là lẽ thật”, chứ không cảm thấy phấn khích lắm. Nhưng những người vừa mới nghe những lời này thì sâu thẳm nội tâm họ cảm nhận được sự bồi bổ, như cá gặp nước. Có một câu là “hạn hán lâu ngày gặp mưa rào”, chính là cảm giác này. Cho nên không ít người sau khi nghe lời Đức Chúa Trời thì sẵn lòng tiếp nhận. Học sinh trong trường, cảnh sát và cảnh sát trưởng ở đồn cảnh sát, cùng quan chức chính phủ, họ đều sẵn lòng tiếp nhận. Thậm chí còn có các mục sư trong giới tôn giáo đi đầu trong việc tiếp nhận, đưa một số đồng sự và tín đồ vào hội thánh. Bất kể xét từ phương diện nào, lời Đức Chúa Trời nhập thể phán và lẽ thật Ngài bày tỏ không những có thể cung ứng cho nhu cầu của nhân loại, mà còn có thể thay đổi số phận của nhân loại. Cho nên, lẽ thật về việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể rất quan trọng, và nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể là một phần của việc nhận biết Đức Chúa Trời, không sai chút nào. Các ngươi có nhận biết được những điều này chưa? (Thưa, qua mối thông công của Đức Chúa Trời, chúng con đã nhận biết được một chút. Trước đây nhận thức của chúng con về Đức Chúa Trời nhập thể đều là đạo lý. Chúng con biết Đức Chúa Trời tể trị hết thảy nhưng chưa nhìn thấy sự thật. Đức Chúa Trời thông công xong, thì chúng con được rõ ràng hơn.) Rõ ràng hơn thì có phải là càng có thêm đức tin không? (Thưa, phải.) Nếu một ngày nào đó, ở hội thánh địa phương của ngươi, hầu hết mọi người vì bị chính phủ bách hại và thế giới ruồng bỏ mà nghi ngờ Đức Chúa Trời, không dám tin nữa và đánh mất đức tin, chỉ còn lại một mình ngươi thôi, hơn nữa có rất nhiều người xét đoán và lên án ngươi, nói rằng: “Các anh tin một con người, anh bị mê hoặc rồi”, thì ngươi làm thế nào? (Thưa, không để ý đến họ, và tiếp tục tin.) Ngươi có bị ảnh hưởng không? Có cảm thấy cô độc không? Ngươi có nảy sinh nghi ngờ và thầm nghĩ: “Trên thế giới có nhiều người không tin đến vậy, rốt cuộc điều mình tin có đúng không? Cứ tin như vậy thì có đạt được gì không? Có kết cục và đích đến tốt đẹp không?”, các ngươi có nghĩ như vậy không? (Thưa, hiện giờ nhìn thấy rất nhiều lời Đức Chúa Trời đã được hoàn thành và ứng nghiệm, thì chúng con sẽ không có những ý nghĩ đó, chỉ là có lúc, chúng con vẫn có chút yếu đuối.) Yếu đuối thì không đáng sợ, chỉ cần ngươi có thể chắc chắn về một điểm thì sự yếu đuối này sẽ không khiến ngươi vấp ngã. Ngươi hãy ghi nhớ điểm này: Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể bình thường và thực tế thế nào, ngay cả khi ngươi nhìn thấy nơi Ngài một vài điều mà ngươi cho là khiếm khuyết và thiếu sót, thậm chí ngươi nghe thấy một số tin đồn, hoặc ngươi tìm hiểu được xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có bệnh tật, có biểu hiện đau khổ hoặc yếu đuối, thì những điều này đều không phải vấn đề. Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể bình thường và thực tế đến thế nào, thông thường đến thế nào, có bề ngoài ra sao, thì ngươi chỉ cần xác định chắc chắn được một điểm: Ngài là lẽ thật, đường đi và sự sống. Đây chính là lý do ngươi đi theo Ngài, cũng là căn cứ để ngươi tin Đức Chúa Trời. Ngươi có thể chắc chắn về một điểm này thôi là đủ, và ngươi sẽ không bao giờ không hối hận. Ngươi đi theo Ngài không phải vì những nguyên nhân khác, mà chính vì Ngài là lẽ thật, đường đi và sự sống, Ngài có thể dẫn ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, Ngài có thể đại diện cho Đức Chúa Trời, Ngài là sự thể hiện của Đức Chúa Trời và sự bày tỏ của Đức Chúa Trời, là Đấng được giao phó công tác của Đức Chúa Trời trên đất. Ngươi đi theo Ngài là đúng, ngươi đi theo Ngài không phải là đi theo một con người, mà là đi theo Đức Chúa Trời. Ngươi là người đi theo Đức Chúa Trời, là chiên của Đức Chúa Trời, ngươi không đi sai đường. Ngươi đi theo Ngài thì vĩnh viễn sẽ không đi sai đường, vĩnh viễn sẽ không mất phương hướng. Ngươi đi theo Ngài thì ngươi là loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, vĩnh viễn sẽ không sai. Ngươi chắc chắn được điểm này thì nền tảng đức tin Đức Chúa Trời của ngươi đã được thiết lập. Bất kể ngươi thấy Đức Chúa Trời nhập thể bình thường và thực tế như thế nào, bất kể ngươi nghe thấy tin đồn hay luận điệu sai lầm nào, hoặc ngươi còn những quan niệm nào chưa được giải quyết, tất cả đều không quan trọng. Ngay cả khi ngươi có yếu đuối, có đau khổ cũng không sao. Chỉ cần ngươi có đức tin chân thực, bất kể gặp phải vấn đề gì cũng có thể tìm kiếm lẽ thật để giải quyết, bất kể vào lúc nào cũng không rời khỏi Đức Chúa Trời, thì đến cuối cùng, chắc chắn ngươi là đối tượng được Đức Chúa Trời thu phục, là một thành viên trong nhân loại mới sẽ bước vào thời đại tiếp theo, và ngươi sẽ là một người có phúc. Cho nên, bất kể là vào thời điểm nào, ngươi cũng đừng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài, đừng chịu ảnh hưởng của lời lẽ nào, cũng đừng chịu ảnh hưởng của bất kỳ người nào mà ngươi cho là vĩ nhân, danh nhân, hoặc của người mà ngươi sùng bái. Ngươi chỉ cần quả quyết rằng Đấng là lẽ thật, đường đi, sự sống đó là chính Đức Chúa Trời, như vậy là đủ.
Những gì chúng ta vừa mới thông công là tầm quan trọng của lẽ thật về việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể hoàn toàn có thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời để làm công tác của chính Đức Chúa Trời, đương nhiên ảnh hưởng từ những lời Ngài phán và công tác Ngài làm đối với toàn thể nhân loại cũng sẽ dần dần nảy sinh, sẽ dần dần cho ngươi thấy được. Bất kể thế nào, công tác Đức Chúa Trời nhập thể làm là công tác chính Đức Chúa Trời làm, những lời Ngài bày tỏ cũng là những lời chính Đức Chúa Trời bày tỏ, tức là bất kể có hình tượng thế nào, có diện mạo ra sao, Đức Chúa Trời nhập thể hoàn toàn có thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời. Cho nên, nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể cũng là một phần của việc nhận biết Đức Chúa Trời, ngươi không nên xem nhẹ lẽ thật về phương diện này. Nếu ngươi muốn nhận biết Đức Chúa Trời và nhận biết Đức Chúa Trời trên trời, muốn buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời trên trời, vậy trước hết ngươi phải nhận biết Đức Chúa Trời trên đất và nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể, buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể. Như vậy thì càng có thể gia tăng đức tin của ngươi đối với Đức Chúa Trời và củng cố nền tảng cho ngươi đi theo Đức Chúa Trời. Chỉ cần ngươi xác định Đức Chúa Trời nhập thể là chính Đức Chúa Trời, là lẽ thật, đường đi và sự sống, thì ngươi sẽ không xem Ngài là một con người. Ngươi càng đi theo Ngài, càng trải nghiệm lời Ngài phán và công tác Ngài làm, thì ngươi càng cảm thấy: “Con người thông thường này không thông thường, Ngài không phải là một con người thông thường theo đúng nghĩa, mà là một con người thông thường có thực chất của Đức Chúa Trời”. Nhận biết được điểm này thì ngươi sẽ không xem Ngài là một thành viên thông thường trong nhân loại bại hoại, mà sẽ đối đãi với Ngài như một người có thực chất và thân phận của Đức Chúa Trời. Ngươi đối đãi với Ngài như vậy thì không giống như cách đối đãi với nhân loại bại hoại thông thường, ngươi không đối đãi bằng triết lý xử thế và cách thức xử sự giữa người với người, mà ngươi dùng cách thức đối đãi với Đức Chúa Trời để đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể. Dùng cách thức này để đối đãi với Con người nhập thể này thì ngươi có thể đạt đến việc có nhận thức về Ngài. Khi đối đãi với Ngài theo cách thức Đức Chúa Trời yêu cầu, thì ngươi không cần sợ hãi, lo lắng, cũng không cần câu nệ, càng không cần đề phòng. Thay vào đó, ngươi hãy đối đãi với Ngài bằng cách thức và thái độ đúng đắn nhất ngươi dùng để đối đãi với Đức Chúa Trời. Đương nhiên, cách thức đối đãi này cũng là cách thức mà một loài thọ tạo nên có khi đối đãi với Đức Chúa Trời. Trước đây chúng ta đã nói đến cách thức đối đãi với Đức Chúa Trời là gì? Các ngươi còn nhớ không? (Thưa, điều thứ nhất là đối đãi chân thành, điều thứ hai là tôn trọng, điều thứ ba là nghe lời.) Chân thành, tôn trọng và nghe lời, chỉ ba điều này, tổng cộng sáu chữ. Nhìn bề ngoài thì những điều này có vẻ khá dễ làm, nhưng nếu ngươi đứng không đúng vị trí và có thái độ không đúng, thì rất khó để làm được. Ngươi thấy đấy, hiểu theo mặt chữ thì dễ, nhưng làm được thì không dễ. Các ngươi nói xem, người ta không thể đối đãi một cách chân thành, tôn trọng và nghe lời với Đức Chúa Trời nhập thể, vậy họ có thể làm được như thế với Đức Chúa Trời trên trời không? (Thưa, không thể.) Tại sao họ không thể làm được? (Thưa, bởi vì người ta không có nhận thức thực sự về Đức Chúa Trời thì sẽ dựa vào quan niệm và tưởng tượng mà đối đãi với Ngài.) Chuyện này do thực chất và tâm tính bại hoại của con người quyết định, không liên quan đến chuyện trong lòng ngươi khắc chế bản thân thế nào hay có nguyện vọng ra sao. Nếu tâm tính bại hoại không được giải quyết thì rất khó làm được ba điều này. Nếu tâm tính bại hoại được giải quyết một phần, hơn nữa người ta cũng có sự hiểu biết và nhận thức cơ bản về Đức Chúa Trời, thì họ có thể làm được một chút, có thể đứng đúng địa vị của loài thọ tạo, và đứng ở địa vị của loài thọ tạo mà đối đãi với Đức Chúa Trời. Muốn làm được ba điều này, một mặt người ta phải giải quyết một số tâm tính bại hoại và lý trí của họ được khôi phục một phần. Mặt khác, người ta phải có một số nhận thức về Đức Chúa Trời. Không nhận biết Đức Chúa Trời cũng không được, phải không? (Thưa, phải.) Đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể là như vậy, đương nhiên đối đãi với Đức Chúa Trời trên trời cũng như vậy. Ngươi không làm được ba điều này đối với Đức Chúa Trời nhập thể thì đối với Đức Chúa Trời trên trời lại càng khỏi phải nói. Công tác Đức Chúa Trời trên trời làm và lời Đức Chúa Trời trên trời phán, thì ngươi nhìn không thấy, nghe không được, cũng với không tới, mà ngươi nói mình có thể thuận phục Đức Chúa Trời, thì đó chỉ là lời nói suông. Ngươi xem nhân loại thuở ban đầu đi, Đức Chúa Trời bảo họ hiến tế, bảo họ dâng một phần mười thu hoạch trong năm. Trong lòng người ta hiểu được rằng điều gì Đức Chúa Trời muốn thì bắt buộc phải dâng, nhưng đến lúc nên dâng lên Đức Chúa Trời thì họ lại không muốn dâng. Thậm chí sau khi dâng lên, họ còn muốn lấy lại, cảm thấy: “Hoa màu này đâu phải do Ngài trồng, Ngài cũng đâu có làm việc, dựa vào đâu mà phải dâng cho Ngài?”. Khi dâng thì họ không cam tâm, trong lòng không thoải mái, còn nổi giận. Đây mà là tôn trọng sao? Họ đâu có đạt đến được, phải không nào? Cho nên, muốn đạt đến việc tôn trọng và nghe lời Đức Chúa Trời thì không đơn giản như vậy, tâm tính bại hoại của người ta mà không được giải quyết thì họ không thể đạt đến được việc này. Bất kể thế nào, muốn đạt đến việc buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể, thì trước hết ngươi phải có nhận thức và hiểu biết về thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể và đủ mọi phương diện lẽ thật liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể, đồng thời giải quyết quan niệm và tưởng tượng của mình. Như vậy ngươi mới thực sự lĩnh hội phương diện lẽ thật về Đức Chúa Trời nhập thể, có nhận thức thực sự về thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, sau đó ngươi mới có thể đạt đến việc thuận phục và kính sợ Đức Chúa Trời.
Trước đây chúng ta đã thông công về việc buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể. Nguyên tắc thứ nhất là đừng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, nguyên tắc thứ hai là đừng đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại. Khi thông công về nguyên tắc thứ hai, chúng ta có đề cập đến chuyện Đức Chúa Trời nhập thể không lừa gạt, không tranh, không đấu, không tính kế, không đả kích, không trả thù. Những điều này trước đây đều đã được thông công rồi, giờ sẽ thông công về chủ đề tiếp theo – không dụ dỗ. Trong cách thức làm người hay qua lại với con người, hoặc một số cách thức làm công tác được bộc lộ từ tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, có một điều là không dụ dỗ. Nên nhận biết điều này thế nào? Cách lý giải theo nghĩa đen về không dụ dỗ có nhất quán với việc không dụ dỗ được biểu hiện trong cách nói chuyện và hành động của Đức Chúa Trời nhập thể không? Nếu cách lý giải của người ta mâu thuẫn với biểu hiện của Đức Chúa Trời nhập thể, vậy sự lý giải của người ta có phải là quan niệm của con người không? Khả năng rất cao, chúng là quan niệm và tưởng tượng của con người. Vậy chúng ta hãy thông công về chủ đề không dụ dỗ được bộc lộ bởi nhân tính và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể. Các ngươi có nhận thức cơ bản gì về chủ đề này không? Phương thức nói chuyện nhất quán của Đức Chúa Trời là gì, các ngươi có biết không? Đức Chúa Trời dùng phương thức nào để nói chuyện với con người, dùng phương thức nào để bày tỏ lời Ngài, các ngươi có đúc kết ra được không? (Thưa, Đức Chúa Trời nói chuyện khá thẳng thắn, phương thức nói chuyện của Đức Chúa Trời có tính giúp đỡ, chỉ bảo, dẫn dắt, lại còn dẫn đưa từng bước, không có thành phần dụ dỗ.) Chắc chắn là không dụ dỗ rồi, nhưng về chi tiết thì người ta vẫn chưa hiểu rõ lắm rốt cuộc không dụ dỗ là nói đến điều gì. Xét từ cách thức biểu đạt ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ mà Đức Chúa Trời thường dùng khi nói chuyện, thì Đức Chúa Trời nói chuyện rất dễ hiểu và thẳng thắn, cố gắng để người ta có thể hiểu và rõ Ngài đang nói gì. Ngài không chơi chữ, cũng không nói những lời giả tạo, cao vời và rỗng tuếch, càng không sa vào hình thức mặt chữ. Thay vào đó, Ngài nói thẳng vào sự việc, tìm mọi cách dùng ngôn ngữ của nhân loại và cách thức nói chuyện mà nhân loại có thể thích ứng được để nói cho người ta nghe. Lời nói của Ngài mang tính chất khuyên bảo, an ủi, động viên, có lúc là cảnh báo. Đương nhiên, lời Ngài phần nhiều mang tính chất cung ứng, giúp đỡ, nâng đỡ và vạch rõ – vạch rõ bản tính bại hoại của con người và vạch trần thực chất của vấn đề, phải vậy không? Chủ yếu Ngài dùng những phương thức như vạch rõ, cung ứng, hướng dẫn, nâng đỡ và giúp đỡ. Trong những phương thức này, có cái thì bao gồm những ví dụ cụ thể, có cái thì lấy ví dụ mang tính hình tượng, dùng một sinh vật, một con vật, một hiện tượng, hoặc một số chuyện xảy ra xung quanh người ta trong cuộc sống của họ để làm ví dụ. Một mặt, làm vậy khiến người ta rõ ràng hơn về lẽ thật hoặc thực tế mà con người nên hiểu trong những lời Đức Chúa Trời phán là gì. Mặt khác, những ví dụ được nêu là một số vụ việc đã xảy ra nơi một số cá nhân đặc biệt, dùng những vụ việc này làm bài học hoặc ví dụ thực tế thì có thể giúp các ngươi biết vấn đề của con người trong chuyện đó là gì, thực chất của vấn đề là gì, sự bại hoại người ta bộc lộ là gì và lẽ thật liên quan đến chuyện đó là gì. Rồi từ đó, Đức Chúa Trời nói cho người ta biết một vài phương diện lẽ thật, để họ trên cơ sở là hiểu phương diện lẽ thật này mà biết cách thực hành nào là hợp ý Đức Chúa Trời, cách thực hành nào là hợp nguyên tắc. Mục đích của việc dùng hình thức ngôn ngữ thẳng thắn và dễ hiểu nhất này là để cung ứng lẽ thật cho người ta. Mục đích của việc cung ứng lẽ thật cho người ta là để khi gặp các loại con người, sự việc và sự vật khác nhau, thì từ mặt tiêu cực, người ta sẽ nhận biết những tư tưởng và quan điểm sai lầm của con người, nhận biết tâm tính bại hoại của con người, nhận biết biểu hiện và thực chất chống đối Đức Chúa Trời của con người. Đồng thời Ngài làm vậy cũng là để, từ mặt tích cực, dẫn dắt người ta hiểu nguyên tắc lẽ thật, hầu cho họ có con đường thực hành và bước vào thực tế lẽ thật. Cung ứng cho người ta để họ hiểu lẽ thật, có nhận thức về lẽ thật và biết nguyên tắc lẽ thật, mục đích cuối cùng chính là để người ta có thể đến trước mặt Đức Chúa Trời, đạt đến việc thuận phục Đức Chúa Trời, thuận phục sự tể trị của Đức Chúa Trời, thuận phục sự an bài của Đức Chúa Trời, thuận phục sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, thuận phục hình phạt, sự phán xét, sự tinh luyện và thử luyện đến từ Đức Chúa Trời, trở thành một người kính sợ Đức Chúa Trời, thờ phượng Đức Chúa Trời, và trở thành một loài thọ tạo đích thực, một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn. Đây là nguyên tắc cụ thể trong lời nói và hành động của Đức Chúa Trời, bao gồm chi tiết mỗi một việc Ngài làm. Những lời cụ thể Đức Chúa Trời phán và những việc cụ thể Đức Chúa Trời làm không có thành phần dụ dỗ, hết thảy đều công khai, đều được tỏ lộ, đều quang minh chính đại và đều ở trong ánh sáng, không có âm mưu quỷ kế mờ ám nào, càng không có bất kỳ mưu đồ hay ý đồ và mục đích không thể nói ra nào đối với nhân loại. Từ mục đích và ý nghĩa đằng sau lời Đức Chúa Trời phán cho đến công tác Đức Chúa Trời làm, không có gì là có ý đồ bất chính đối với con người. Ngược lại, hết thảy đều tích cực, đều là để con người được lợi ích, đều là để con người hiểu lẽ thật và đạt được lẽ thật, để con người đi lên con đường nhân sinh đúng đắn. Cho nên xét từ mục đích và ý nghĩa trong công tác Đức Chúa Trời làm, cùng lời nói và công tác của Đức Chúa Trời, thì thực chất của Đức Chúa Trời và nguồn gốc công tác của Đức Chúa Trời không có thành phần dụ dỗ.
Từ “dụ dỗ” đã xuất hiện từ rất sớm trong Kinh Thánh, các ngươi ai cũng biết, đúng không? (Thưa, đúng vậy.) Trước khi con người lần đầu tiên tiếp nhận sự dụ dỗ của Sa-tan, Đức Chúa Trời đã phán một câu. Đức Chúa Trời phán gì? (Thưa, “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” (Sáng thế 2:16-17).) Trong lời Đức Chúa Trời phán này bao gồm mấy nội dung? Quả của bất kỳ cây nào trong vườn cũng ăn được, đây là nói cho con người biết phạm vi có thể ăn, đây là sự cung ứng tích cực nhất dành cho con người, chính là nói cho con người biết thứ gì có thể ăn. Có phải lời này rất đơn giản, rất thẳng thắn không? (Thưa, phải, con người nghe thì có thể hiểu.) Đúng rồi, không cần phân tích, không cần nghiên cứu, con người nghe là hiểu ngay. Phần tiếp theo, “nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến”, phần này đề cập đến một ngoại lệ, là ngoại lệ gì? Chính là nói cho con người biết trong vườn có một cây biết điều thiện điều ác, quả trên cây đó thì không được ăn. Lời này có đơn giản và thẳng thắn không? (Thưa, có.) Đơn giản và thẳng thắn đến mức nào? (Thưa, con người nghe là hiểu được ngay.) Không cần phân tích hay nghiên cứu, chỉ cần người ta có tai, có đầu óc, thì sau khi nghe câu này là biết nó có ý gì rồi. Thứ gì được ăn, thứ gì không được ăn, Đức Chúa Trời đều đã nói cho con người biết. Thứ không được ăn là thứ gì? Là quả của cây biết điều thiện điều ác. Nhưng sau khi nghe xong, trong lòng con người có nghi ngờ lời Đức Chúa Trời không? (Thưa, có.) Tiếp theo con người sẽ hỏi: “Tại sao không được ăn quả của cây biết điều thiện điều ác?”. Chẳng đợi con người hỏi, Đức Chúa Trời đã phán: “Vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết”. Lời này có đơn giản không? (Thưa, đơn giản.) Đơn giản biết bao, ăn vào thì chắc chắn sẽ chết. Chết là chuyện lớn, cho nên Đức Chúa Trời nhất định phải căn dặn. Lời căn dặn của Đức Chúa Trời có sai không? (Thưa, không sai.) Không có một lời nào sai, cũng không có một lời nào dụ dỗ, đều là nói rõ ràng và minh bạch cho ngươi biết thứ gì được ăn, thứ gì không được ăn, ăn thứ không nên ăn thì sẽ gây ra hậu quả gì, Đức Chúa Trời đều nói cho con người biết cả rồi. Sau khi nghe ba vế đơn giản này, ngươi đã hiểu rất nhiều chuyện. Trong tình huống bình thường, sau khi nghe Đấng Tạo Hóa phán lời, loài thọ tạo đã rõ ràng, đã hiểu và đã ghi nhớ trong lòng thì sẽ biết mình nên làm thế nào. Họ hẳn sẽ nghe lời và làm theo, chỉ ăn những thứ Đức Chúa Trời nói là được ăn, còn thứ Đức Chúa Trời nói không được ăn thì không ăn. Họ không được thử thách Đức Chúa Trời, cũng không được chống lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Hậu quả của việc không nghe lời Đức Chúa Trời là gì thì chúng ta không bàn đến. Về những lời Đức Chúa Trời phán, xét từ hình thức và phương thức ngôn ngữ trong lời Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời phán lời theo cách khiến con người đặc biệt dễ hiểu, không thâm sâu, không úp mở, càng không có ý định nào khác. Đức Chúa Trời phán mấy câu này tuy đơn giản, nhưng đủ để khiến con người nhìn thấy Đức Chúa Trời phán lời rõ ràng, sáng tỏ, đơn giản và dễ hiểu. Vậy lòng Đức Chúa Trời như thế nào? Lòng Đức Chúa Trời tràn đầy tình yêu thương, sự trung thực và thành tín. Tình yêu thương này được thể hiện ở đâu? Nó được thể hiện qua mấy lời căn dặn này của Đức Chúa Trời, Ngài căn dặn đặc biệt cụ thể, đặc biệt đến nơi đến chốn. Xét từ mấy lời căn dặn này thì Đức Chúa Trời có tinh thần trách nhiệm với con người và có sự quan tâm đến con người, Ngài dùng ngôn ngữ đơn giản nhất để con người nghe hiểu được, và khi con người hiểu rồi, Đức Chúa Trời mới yên tâm rời đi. Ngươi thấy đấy, Đức Chúa Trời có mưu đồ gì với con người không? (Thưa, không có bất kỳ mưu đồ gì.) Với tình yêu thương và sự quan tâm, Đức Chúa Trời chỉ mong sao con người làm được một điều – nghe lời, đừng phản nghịch Đức Chúa Trời, đừng nghi kỵ Đức Chúa Trời, đừng hoài nghi Đức Chúa Trời – đây là mục đích và kỳ vọng trong ba lời căn dặn này của Đức Chúa Trời. Hãy nghe lời. Đừng hoài nghi Đức Chúa Trời. Mỗi một lời Đức Chúa Trời phán đều chân thật, và Đức Chúa Trời thành tín, Ngài dùng tình yêu thương và sự quan tâm để thực hiện trách nhiệm này, dùng tình yêu thương và sự quan tâm để căn dặn nhân loại ba câu này. Từ đây, một mặt có thể thấy được thực chất của Đức Chúa Trời, mặt khác có thể thấy phương thức và xuất phát điểm của Đức Chúa Trời khi nói chuyện với nhân loại. Mục đích của Đức Chúa Trời khi phán lời như vậy chính là để con người nghe lời Ngài thì có thể hiểu, hơn nữa có thể ghi khắc trong lòng. Bất kể con người nhìn nhận thế nào, thì xuất phát điểm của Đức Chúa Trời vẫn là như vậy. Ngài đại diện cho chính Đức Chúa Trời, không có ý đồ hay mục đích quỷ dị, đen tối nào. Hơn nữa, xét từ mấy lời căn dặn này của Đức Chúa Trời thì thấy được rằng Đức Chúa Trời phán lời là đi thẳng vào vấn đề, mục đích Ngài phán lời chính là để ngươi hiểu ý Ngài và biết nên làm thế nào. Đức Chúa Trời chưa bao giờ chơi trò úp mở với con người, khi phán lời, Ngài đều thẳng thắn. Ngài dùng ngôn ngữ đời thường dễ hiểu nhất để đối thoại với con người, hầu cho con người có thể hiểu được và có thể ghi nhớ, thế thì lời Ngài nói ra sẽ không uổng phí, vậy là được rồi. Khi phán lời, Đức Chúa Trời có đứng từ địa vị cao không? Có dạy dỗ con người không? (Thưa, không.) Khi đối thoại với nhân loại và căn dặn con người, ngay cả khi đứng ở góc độ của Đức Chúa Trời hay là đứng ở góc độ tương tự như cha mẹ hoặc người lớn trong nhà để căn dặn nhân loại, thì Đức Chúa Trời cũng dùng ngôn ngữ thẳng thắn nhất và đơn giản nhất để đối thoại với con người. Thực ra, trong mắt nhân loại bại hoại, xét từ góc độ hình thức ngữ pháp và tri thức, ngôn ngữ của nhân loại, thì những lời này chỉ là lời thông tục, lời để nói với trẻ con. Có người nói: “Lời này không thâm sâu, không cao siêu, vĩ đại hay cao cấp, cũng không có khí thế gì, còn không dùng từ ngữ cao thâm hay hoa mỹ gì cả”. Đúng vậy, đây chính là cách thức Đức Chúa Trời nói chuyện với con người. Mặc dù Đức Chúa Trời thì toàn năng, nơi Đức Chúa Trời thì phong phú dư tràn, và Đức Chúa Trời thì vượt trên vạn vật, nhưng khi đối thoại với nhân loại, Ngài lại dùng ngôn ngữ đơn giản và thẳng thắn nhất. Bởi vì trong mắt Đức Chúa Trời, nhân loại giống như trẻ nhỏ, cho nên Đức Chúa Trời dùng những lời mà trẻ nhỏ lý giải được và hiểu được để căn dặn nhân loại – như có thể ăn thứ gì, không được ăn thứ gì, ăn rồi sẽ thế nào. Ngài dùng những lời đơn giản như vậy mà căn dặn nhân loại, để nhân loại có thể hiểu được. Trong mắt nhân loại bại hoại, như thế gọi là gì? Gọi là hạ mình. Còn theo Đức Chúa Trời thì sao? Đây là sự bộc lộ tự nhiên của Ngài. Đức Chúa Trời không cần giả vờ, Ngài làm chuyện này thì không cần phác thảo, không cần ấp ủ, đây chính là sự bộc lộ tự nhiên của Ngài. Ngươi thấy đấy, bởi vì lời này không thâm sâu, cũng không thần bí khó lường, nên người ta thường không coi trọng lời này. Họ không thể nghiêm túc tiếp cận lời Đức Chúa Trời, không thể nghe lời và thuận phục. Đây chính là chỗ bại hoại của nhân loại bại hoại, cũng là chỗ vô tri của nhân loại thuở ban đầu. Khi xuất hiện câu nói khác với lời Đức Chúa Trời, nhân loại liền đề phòng Đức Chúa Trời, bắt đầu hoài nghi và phủ nhận lời Đức Chúa Trời, bắt đầu nghi kỵ dụng ý trong lời nói của Đức Chúa Trời, cứ như vậy nhân loại rời xa Đức Chúa Trời. Sau khi tiếp nhận sự dụ dỗ của Sa-tan và có sự nghi kỵ, hoài nghi đối với Đức Chúa Trời, thì nhân loại không thể nghe theo lời Đức Chúa Trời và thuận phục lời Đức Chúa Trời nữa, họ ngày càng xa cách Đức Chúa Trời. Con người rời khỏi ánh sáng dung nhan Đức Chúa Trời, không nghe lời Đức Chúa Trời và không tin lời Ngài, thì hậu quả là gì? Chính là bị Sa-tan làm bại hoại, và bại hoại cho đến tận ngày nay.
Điều Ta vừa nói là câu chuyện về lần đầu tiên từ “dụ dỗ” xuất hiện trong Kinh Thánh. Từ câu chuyện này, người ta nên có hiểu biết cơ bản về cách thức Đức Chúa Trời nói chuyện, tâm tính Đức Chúa Trời và thái độ của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Về phương diện thực chất của Đức Chúa Trời không có thành phần dụ dỗ, thì Đức Chúa Trời nhập thể cũng có điều này, đây là chuyện hẳn rất dễ nhận ra. Những lời Đức Chúa Trời phán và những việc Đức Chúa Trời làm được ghi chép trong Kinh Thánh thì không nhiều, nên có khó khăn cho con người trong việc nhận biết chắc chắn về điều này. Đến giai đoạn công tác này vào thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời nhập thể đã phán rất nhiều lời, cũng đã làm rất nhiều việc. Bao nhiêu năm nay Ta ở cùng các ngươi, nói chuyện và thông công với các ngươi, thậm chí qua lại với các ngươi trong cuộc sống thường nhật, những lời Ta nói và những việc Ta làm về cơ bản đều giống với thái độ Đức Chúa Trời dùng để đối đãi với nhân loại trong câu chuyện Kinh Thánh vừa nói đến. Ta cố gắng nói chuyện sao cho các ngươi nghe thì có thể hiểu và rõ, cho nên có lúc Ta nói rất tỉ mỉ, rất cụ thể, thậm chí nói đi nói lại, không khỏi có chút dài dòng. Nguyên nhân chỉ có một, chính là bất kể Đấng Tạo Hóa – Đức Chúa Trời xuất hiện và công tác theo phương thức nào, thì khi đối đãi với nhân loại, Ngài luôn có một thái độ và quan điểm theo thói quen không thể xóa bỏ và khó mà thay đổi. Nói là “theo thói quen” và “không thể xóa bỏ” thì có lẽ không được xác đáng cho lắm, nhưng ngôn ngữ của nhân loại quá nghèo nàn, tạm thời Ta chỉ có thể nói như thế. Vậy quan điểm này là nói đến điều gì? Chính là nói đến chuyện xét từ góc độ của Đức Chúa Trời, thì bất kể lúc nào nhân loại cũng là nhân loại vô tri và ngây ngô thuở ban đầu do Đức Chúa Trời tạo dựng, bề ngoài trông như người trưởng thành nhưng thực chất bên trong lại giống như trẻ lên ba. Cho nên, thái độ Đức Chúa Trời đối với nhân loại luôn khác với cái nhìn và thái độ mà con người nhìn nhận nhân loại. Chính vì có sự “khác nhau” này, nên rất nhiều lúc khi Đức Chúa Trời nói chuyện hoặc căn dặn nhân loại, thì cách thức nói chuyện hoặc xuất phát điểm của Đức Chúa Trời phần nhiều là muốn mượn ngôn ngữ của nhân loại để con người càng biết được Đức Chúa Trời đang nói gì hơn. Mục đích của Đức Chúa Trời trong cách đối đãi và nói chuyện với con người chính là để người ta biết rõ hơn về tâm ý của Ngài là gì, tiêu chuẩn yêu cầu của Ngài là gì, nguyên tắc Ngài yêu cầu con người trong mỗi việc họ làm là gì, quan điểm con người nên có khi đối đãi với mọi con người, sự việc và sự vật là gì. Khi Đức Chúa Trời đứng ở góc độ của Đấng Tạo Hóa mà nói những lời này với nhân loại, thì đó không phải là một dạng diễn thuyết, không phải là một dạng hô hào, đương nhiên cũng không phải là một dạng hiệu triệu, mà là sự cung ứng. Cung ứng là gì? Các ngươi nói xem. (Thưa, nghĩa là bổ sung những điều mà con người cần và những điều mà con người thiếu, đó gọi là cung ứng.) Cung ứng bao gồm nâng đỡ, giúp đỡ, có lúc là khuyến khích, nhắc nhở, còn có lúc là khích lệ v.v.. Vậy cung ứng là gì? Nghĩa là bất kể đã bao nhiêu tuổi, nắm được bao nhiêu kỹ năng sinh tồn hoặc có bao nhiêu tri thức, thì về phương diện lẽ thật, nhân loại vĩnh viễn chỉ có con số không. Tri thức mà con người hiểu hoàn toàn không tương hợp với lẽ thật. Có quá nhiều lẽ thật mà con người nên hiểu, và sự cung ứng mà con người cần nhất chính là sự cung ứng lẽ thật và sự sống. Cho nên thông công lẽ thật mới là sự cung ứng tốt nhất cho con người. Nói cách khác, quan điểm, nhận thức và thái độ của ngươi khi đứng trước hết thảy con người, sự việc và sự vật, đều không liên quan đến lẽ thật. Bất kể ngươi có bao nhiêu tri thức, bất kể ngươi có những chiêu thức xử thế cao siêu đến đâu, bất kể ngươi từng trải bao nhiêu, thì về phương diện lẽ thật ngươi vẫn là con số không, ngươi không có lẽ thật. Ngay cả khi có một số người tin Đức Chúa Trời đã nhiều năm và hiểu được một số đạo lý, thì đó cũng không phải là thực sự hiểu lẽ thật. Không hiểu lẽ thật là nói đến điều gì? Một mặt, xét từ sự thật khách quan, như vậy nghĩa là ngươi không hiểu nguyên tắc lẽ thật, không biết cách thực hành, gặp phải một chuyện đặc biệt nào đó thì sẽ ngơ ngác không biết làm sao. Mặt khác, còn có một nguyên nhân chủ quan, đó là con người có tâm tính bại hoại, nó cản trở, trói buộc ngươi, nên ngươi không thể thực hành lẽ thật. Ngay cả chút lẽ thật ngươi hiểu mà ngươi cũng không đưa vào thực hành được, ngươi gặp khó khăn và cản trở trong việc thực hành lẽ thật. Cho nên trong mắt Đức Chúa Trời, nhân loại vĩnh viễn là trẻ sơ sinh. Có người nói: “Trong mắt Đức Chúa Trời, con người vĩnh viễn là trẻ sơ sinh sao? Có phân chia theo giai đoạn không?”. Không phân chia theo giai đoạn. Tại sao Ta nói không phân chia theo giai đoạn? Căn cứ vào thực chất của con người, thì nhân loại vĩnh viễn là nhân loại, và con người trước mặt Đức Chúa Trời vĩnh viễn là trẻ sơ sinh. Có những người nói: “Vậy Áp-ra-ham và Gióp có phải là trẻ sơ sinh không?”. Phải. Tại sao Áp-ra-ham, Gióp đều đã có lời chứng mà vẫn là trẻ sơ sinh? Bởi vì đây là so với thực chất của Đức Chúa Trời và sự toàn năng của Đức Chúa Trời. Bất kể con người hiểu được bao nhiêu lẽ thật mà Đức Chúa Trời cung ứng cho, bất kể họ có thể thuận phục Đức Chúa Trời được bao nhiêu, thì những gì con người hiểu về thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời và lẽ thật chỉ có hạn. Cái có hạn này là nói đến điều gì? Chính là bị hạn chế trong phạm vi con người sinh sống và sinh tồn. Ngay cả khi ngươi hiểu được các phương diện khác nhau của lẽ thật và ngươi đã được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện, nhưng xét tận cùng, vẫn là Đức Chúa Trời cung ứng cho ngươi. Đức Chúa Trời vĩnh viễn là nguồn sống và sự sống của ngươi, còn ngươi vĩnh viễn là đối tượng được cung ứng và chăm tưới bởi lời Đức Chúa Trời và sự sống của Ngài. Xét từ điểm này, thì nhân loại trong mắt Đức Chúa Trời vĩnh viễn đều là trẻ sơ sinh. Cụ thể là trẻ sơ sinh còn nằm trong tã, trẻ sơ sinh còn bú sữa, hay là thời kỳ nào khác, thì chuyện này được phân chia dựa trên lẽ thật mà ngươi hiểu được. Nhưng bất kể ở thời kỳ nào, sinh vật thọ tạo là nhân loại này đã là loài thọ tạo, thì sẽ vĩnh viễn là trẻ sơ sinh trong mắt Đấng Tạo Hóa. Xét về thân phận và thực chất của trẻ sơ sinh này, thì mục đích và tính chất chủ yếu trong việc Đức Chúa Trời nói chuyện với nhân loại chính là sự cung ứng. Đương nhiên, phạm vi bao hàm trong sự cung ứng này rộng hơn, có lúc là vạch rõ, có lúc là quở trách, có lúc là sửa dạy, có lúc là vạch trần, có lúc là tỉa sửa, có lúc là nói thẳng với ngươi, có lúc là nói rõ với ngươi, có lúc là lấy một ví dụ để nói cho ngươi một nguyên tắc, để ngươi tự suy ngẫm, tự trải nghiệm. Bất kể dùng cách thức nào để nói chuyện, thì tính chất trong lời nói của Đấng Tạo Hóa với nhân loại thọ tạo mà Ngài tạo dựng vĩnh viễn là sự cung ứng. Vậy, xét về sự cung ứng của Đức Chúa Trời dành cho con người, các ngươi xem trong đó có thành phần dụ dỗ không? (Thưa, không có.) Đối với con người, điều nhân loại đạt được từ Đức Chúa Trời mãi mãi là lẽ thật, đường đi và sự sống, cái họ đạt được là lợi ích, cái họ thu hoạch được là sự sống. Ngay cả khi cuối cùng ngươi được hoàn thiện, thì ngươi vẫn phải tiếp nhận sự tể trị của Đức Chúa Trời, thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời. Ngươi vẫn phải tiếp nhận sự cung ứng của Đức Chúa Trời, vẫn phải tiếp nhận sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, và ngươi vẫn là loài thọ tạo, thân phận của ngươi vĩnh viễn không thay đổi. Chỉ có điều, sự sống và vóc giạc trong thân phận khi đó sẽ khác với sự sống và vóc giạc trong thân phận hiện tại. Khi đó, ngươi càng danh chính ngôn thuận, và ngươi sẽ có sự sống của nhân loại mới. Thực chất của sự sống này bắt nguồn từ lời Đức Chúa Trời. Nhân loại mới này có thể thuận phục Đức Chúa Trời và thờ phượng Đức Chúa Trời, họ không thờ phượng Sa-tan nữa, họ đã vứt bỏ Sa-tan, không còn bị Sa-tan dụ dỗ và không mang dấu của con thú nữa.
Trong mọi lời được Đức Chúa Trời nhập thể phán ra mà các ngươi đọc từ ngày đầu tiên cho đến hiện tại, hoặc sau này tiếp tục đọc, mỗi một lời các ngươi đọc được, mỗi một lời các ngươi nghe thấy và tiếp nhận, mỗi một lần Ngài nói chuyện, hết thảy đều không có lời nào mang thành phần dụ dỗ. Ngay cả khi Ta có hỏi các ngươi một số câu hỏi thì Ta cũng hỏi một cách thẳng thắn, Ta hỏi quan điểm của các ngươi, hỏi các ngươi cách lý giải và nhìn nhận về một chuyện nào đó. Hoặc Ta đưa ra một câu hỏi để các ngươi suy ngẫm, nếu thấy các ngươi suy ngẫm mà không hiểu được, thảo luận mà không rõ được, thì Ta nói thẳng ra. Nếu Ta nói xong mà các ngươi hiểu rồi và có thể lý giải được rồi thì Ta không nói nữa. Có lúc Ta đưa ra ví dụ, có người nghe được thì cảm thấy “Đây là đang dạy trẻ con sao?”. Ta nói thế này, người tin Đức Chúa Trời phần lớn đều là người trưởng thành trên hai mươi, ba mươi tuổi cả rồi, quả thật không phải trẻ con. Nhưng người tin Đức Chúa Trời thì ăn uống lời Đức Chúa Trời, nên bất kể đã bao nhiêu tuổi, trước lời Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Trời thì người ta đều là trẻ nhỏ, mãi mãi là trẻ nhỏ. Ngươi thấy đấy, trong nhà Đức Chúa Trời có người thuộc đủ mọi ngành nghề, có công nhân, nông dân, kỹ thuật viên, cán bộ cơ quan, còn có sinh viên đại học, thậm chí thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư, v.v., nhưng trong số họ, có mấy người với tới được lẽ thật? Ta giảng đạo như vậy thì có mấy người có thể hoàn toàn hiểu được? Nếu Ta không nói tỉ mỉ, không nói cụ thể, thì người ta có thể hiểu được không? Họ đều chỉ hiểu một chút nghĩa đen, đến khi thực hành và trải nghiệm thì lại không có con đường. Cho nên, Ta buộc phải nói tỉ mỉ và cụ thể, còn phải nêu ví dụ, thiếu một cách cũng không được. Nếu có người cho rằng đây là đang dạy trẻ nhỏ thì họ nói đúng rồi đấy, Ta nói những lời này đúng là đang nói với trẻ nhỏ. Vậy các ngươi nói xem, trước mặt Đức Chúa Trời, các ngươi có phải đều là trẻ nhỏ không? Trong các ngươi có mấy người có thể với tới lời Đức Chúa Trời, có thể hiểu lời Đức Chúa Trời? Nếu các ngươi thực sự coi mình là trẻ nhỏ thì còn thực sự có có lý trí. Các ngươi nên coi mình là trẻ nhỏ mà nghe lời Đức Chúa Trời, tâm thái như vậy mới đúng. Các ngươi thấy đấy, khi Ta nói những lời dành cho trẻ nhỏ này, các ngươi nghe thì có thấy có động lực không, có thưa Amen không? Ta nói chuyện như vậy thì có giải quyết được khó khăn của các ngươi không? Có giải quyết được vấn đề của các ngươi không? Nếu vấn đề của các ngươi thực sự được giải quyết, vậy những lời này chính là nhu cầu của con người, Ta nói như vậy quả thật là hoàn toàn thích hợp. Con người bại hoại thực sự cần Ta nói như vậy – nghĩa là lấy ví dụ, dùng ẩn dụ, không nề hà mà nói đi nói lại từ các góc độ khác nhau, và nói bằng các phương thức khác nhau. Hơn nữa những lời Ta nói ra đều giống như ngôn ngữ nói với trẻ nhỏ, đây là những lời đơn giản nhất, thẳng thắn nhất, chỉ có nói như vậy người ta mới hiểu. Nhưng bất kể nói thế nào, trong toàn bộ những lời Ta nói này không có một lời nào là lời nói dối, là lời mê hoặc các ngươi. Thay vào đó, chúng đều nói cho các ngươi biết rằng phải tin mọi lời Đức Chúa Trời phán, tuyệt đối không được nghi ngờ lời Đức Chúa Trời. Ai nghi ngờ lời Đức Chúa Trời thì đã mắc mưu Sa-tan và rơi vào cạm bẫy của Sa-tan. Ví dụ, Đức Chúa Trời phán: “Nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” (Sáng thế 2:17). Vậy Sa-tan mê hoặc con người thế nào? Sa-tan nói: “Các ngươi không hẳn phải chết đâu...” (Sáng thế 3:4), đấy là mê hoặc con người. Trong những lời Ta nói có lời nào tương tự như lời của Sa-tan, hoặc gây ra hậu quả như lúc Sa-tan mê hoặc con người không? Có lời nào mang tính chất này không? (Thưa, không có.) Một mặt, những lời Ta nói giúp các ngươi nhận biết tâm tính Sa-tan bại hoại, nhận biết những tư tưởng và quan điểm sai lầm mà Sa-tan tiêm nhiễm cho con người, để các ngươi nhận biết và mổ xẻ, rồi thoát khỏi chúng. Mặt khác, những lời Ta nói cho các ngươi biết cách để tuân theo con đường của Đức Chúa Trời, biết con đường của Đức Chúa Trời là thế nào, những nguyên tắc mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người là gì, cũng như con người phải tuân giữ những nguyên tắc nào trong các loại chuyện khác nhau. Mọi lời Ta nói đều là để các ngươi rời xa Sa-tan, rời xa trào lưu tà ác, vứt bỏ Sa-tan, tách mình khỏi trào lưu tà ác, đến trước mặt Đức Chúa Trời, từ trong các loại con người, sự việc và sự vật mà tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời và nguyên tắc lẽ thật, bước vào thực tế lời Đức Chúa Trời và thuận phục lời Đức Chúa Trời. Mọi lời Ta nói đều là để giúp các ngươi sau khi thoát khỏi tâm tính bại hoại thì trở thành người kính sợ Đức Chúa Trời và thờ phượng Đức Chúa Trời. Ta không có một lời nào bảo các ngươi chạy theo trào lưu của thế gian hay thuận theo đủ loại tư tưởng và quan điểm của thế gian. Ta không có một lời nào bảo các ngươi rời bỏ con đường thật hay rời bỏ Đức Chúa Trời, cũng không có một lời nào bảo các ngươi xét đoán Đức Chúa Trời hoặc bất mãn với Đức Chúa Trời. Đương nhiên, càng không có lời nào của Ta đại diện sai cho Đức Chúa Trời từ góc độ của Đức Chúa Trời nhập thể, không có lời nào của Ta đưa ra thông tin sai khiến các ngươi hiểu lầm Đức Chúa Trời hoặc đề phòng Đức Chúa Trời. Mà thay vào đó, Ta cố hết sức để giải quyết những tư tưởng và quan điểm sai lầm của các ngươi về Đức Chúa Trời, những quan niệm và tưởng tượng khác nhau của các ngươi về Đức Chúa Trời, đưa các ngươi đến trước mặt Ngài, thậm chí đẩy các ngươi đến trước mặt Ngài và giúp các ngươi rời xa trào lưu tà ác, buông bỏ đủ loại tư tưởng và quan điểm sai lầm. Ngươi thấy đấy, tất cả những lời mổ xẻ đủ loại tư tưởng và quan điểm sai lầm này, bao gồm việc Ta thông công về hôn nhân, gia đình, công việc, chính trị, lý tưởng, tiền đồ, tiền bạc, địa vị, danh lợi, quan hệ nam nữ, cả những con đường mà đủ loại người đi trên thế gian này, cách người ta phân định các loại cảm xúc, cách người ta tiếp cận với tình cảm, v.v., tất cả những chuyện này đều cung ứng cho các ngươi những tư tưởng và quan điểm đúng đắn, tích cực, cung ứng cho các ngươi lẽ thật. Những lời này đều là lẽ thật. Chỉ khi tiếp nhận lẽ thật, người ta mới có thể từ các góc độ khác nhau mà phân định đủ loại tư tưởng và quan điểm sai lầm, phân định sự tối tăm và tà ác của thế gian này, có thể nhận rõ thế gian này và vứt bỏ Sa-tan. Chỉ khi tiếp nhận lẽ thật, người ta mới có thể có được những tư tưởng, quan điểm đúng đắn và hợp với lẽ thật mà Đức Chúa Trời yêu cầu nơi con người, mới có thể bước lên con đường quang minh và đúng đắn, đến trước mặt Đức Chúa Trời để thuận phục và thờ phượng Đức Chúa Trời. Hơn nữa, nếu Ta nói những lời này với ý định gì đó, thì chỉ có một ý định thôi, chính là nghĩ trăm phương nghìn kế để giúp các ngươi có thể hiểu lẽ thật, có thể buông bỏ những thứ thuộc về xác thịt như tiền đồ và lợi ích xác thịt của cá nhân, v.v., sau đó mưu cầu lẽ thật. Ta cũng dùng đủ cách thức khác nhau để nói cho người ta về các chủ đề liên quan đến đủ mọi phương diện lẽ thật, để khiến các ngươi có hứng thú với lẽ thật. Nhất là Ta là dùng một vài cách nói tương đối hài hước và thú vị để các ngươi cảm thấy hứng thú, sẵn lòng nghe, và nghe thì để vào tai, sau đó hiểu lẽ thật được nói đến trong đó. Ta dùng một câu chuyện hài hước hoặc một câu chuyện thú vị để thu hút các ngươi và giúp các ngươi sẵn lòng nghe. Như vậy, nghe xong, thì ngoài ghi nhớ câu chuyện này ra, khi gặp phải những chuyện tương tự trong cuộc sống thực tế thì các ngươi có thể nhớ đến câu chuyện này, có thể tìm kiếm lẽ thật liên quan đến vấn đề này. Và trong lúc tìm kiếm, ngươi sẽ đạt được sự khai sáng của Đức Thánh Linh, biết nguyên tắc lẽ thật trong chuyện này là gì, tâm ý của Đức Chúa Trời là gì và lẽ thật người ta nên thực hành là gì. Nghĩa là Ta cố gắng để khi các ngươi gặp các loại chuyện khác nhau thì không còn bối rối, không còn bị trói tay trói chân, không còn hoang mang hay đau khổ, mà có đường để đi, và quan trọng hơn nữa là các ngươi sẽ không còn chịu sự khống chế của tư tưởng Sa-tan và tâm tính Sa-tan bại hoại giống như trước kia, không còn lấy tâm tính Sa-tan bại hoại làm sự sống, không còn dùng những tư tưởng và quan điểm mà Sa-tan tiêm nhiễm cho các ngươi để xử lý đủ loại chuyện, thay vào đó, các ngươi dùng lời Đức Chúa Trời và nguyên tắc lẽ thật để thay thế. Ngươi thấy đấy, trong hết thảy mọi lời Ta đã nói, bất kể theo cách thức gì, bất kể là cách để các ngươi có hứng thú hay cách để có đủ sức thu hút các ngươi, thì mục đích cuối cùng của Ta đều là cố gắng khiến các ngươi có thể hiểu được lẽ thật. Ngay cả khi có lúc Ta kể vài câu chuyện cười, kể một mẩu chuyện nhỏ, thì cũng là để giúp lòng các ngươi có thể an tĩnh lại, giúp các ngươi có thể ngồi yên, như vậy các ngươi mới muốn nghe lẽ thật, mới có cơ hội để tiếp nhận lẽ thật. Nếu nói về mục đích thì đây là mục đích duy nhất. Nhất là có một số người trẻ tuổi mới tin Đức Chúa Trời trong thời gian ngắn và trải nghiệm còn nông cạn, họ vẫn còn tràn đầy kỳ vọng, hiếu kỳ đối với thế giới này, để những người mới tin này có thể bén rễ trên con đường thật, Ta đã nói rất nhiều lời và làm rất nhiều công tác. Đối với những người đi theo Đức Chúa Trời thuộc mọi lứa tuổi, với đủ mọi tình hình khác nhau, thuộc đủ mọi chủng tộc khác nhau, thì dụng ý và ý định duy nhất đằng sau lời Ta nói chính là làm cho con người trong khi đi theo Đức Chúa Trời thì có thể đạt được lẽ thật, hiểu nguyên tắc lẽ thật, hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, có thể đi theo Đức Chúa Trời và đi con đường đúng đắn, không còn chạy theo trào lưu của thế gian, không còn bị tâm tính Sa-tan bại hoại khống chế, không còn tiếp nhận việc Sa-tan làm cho bại hoại nữa, mà thay vào đó, họ thờ phượng Đức Chúa Trời thật, thờ phượng Đấng Tạo Hóa, trở về vị trí vốn có của một loài thọ tạo mà thờ phượng Đấng Tạo Hóa, đây là mục đích duy nhất của Ta. Xét về mục đích duy nhất này, ngay cả khi có lúc Ta dùng cách nói hơi đặc biệt và nội dung Ta nói đến hơi đặc biệt, ngay cả khi có lẽ Ta nói những lời thâm sâu một chút và không dễ hiểu, nhưng bất kể là trường hợp nào, trong lời Ta nói cũng không có thành phần dụ dỗ. Ta chỉ có một dụng ý là cung ứng cho các ngươi và dẫn dắt các ngươi, mà sự cung ứng và dẫn dắt này chính là một dạng dẫn đưa từng bước. Dùng một ẩn dụ không ăn khớp lắm, thì việc cung ứng và dẫn dắt các ngươi giống như chăm sóc hoa trong nhà kính, không dám lơ là một chút nào. Không thể để quá nóng cũng không thể để quá lạnh, thời tiết tốt thì phải để hoa được đón nắng, còn phải thường xuyên quan sát nhiệt độ, nếu quá nóng thì hoa sẽ khô héo, nếu nhiệt độ đột nhiên hạ xuống quá lạnh thì những bông hoa nhỏ sẽ bị lạnh mà chết. Vóc giạc của các ngươi yếu ớt như vậy đấy. Yếu ớt là gì? Nghĩa là quá non nớt và chẳng có vóc giạc gì. Đâu là biểu hiện thực tế của việc chẳng có vóc giạc gì? Chính là đa số mọi người khi gặp chuyện trong cuộc sống thực tế thì hầu như đều không có lối vào sự sống. Không có lối vào sự sống thì lấy đâu ra vóc giạc chứ? Vóc giạc được tích lũy và tích góp ngày này qua ngày khác trên cơ sở là lối vào sự sống. Cho nên, khi nói chuyện với các ngươi, Ta phải không nề hà mà cung ứng và hướng dẫn từ những góc độ khác nhau, đứng ở những lập trường khác nhau, dùng những phương thức và ví dụ khác nhau trong những chủ đề khác nhau, đây gọi là dẫn đưa từng bước. Sự “dẫn đưa” này không phải là dụ dỗ, mà là hướng dẫn, cung ứng, là một dạng dẫn dắt. Dạng dẫn dắt này không có bất kỳ tác dụng tiêu cực nào, cũng không có bất kỳ ý định bất lương nào. Bất kể xét từ ý định, hay xét từ phương thức, nội dung và hình thức nói chuyện, bất kể các ngươi nghe bản ghi âm bài giảng hay là đọc văn bản, các ngươi thử kiểm tra kỹ xem, trong những lời Ta nói có cách thức dụ dỗ người ta của Sa-tan không? (Thưa, không có.) Các ngươi hãy xem thật kỹ mọi lời Ta nói. Mỗi một bài giảng bất kể dài ngắn thế nào, đều thông công về một phương diện lẽ thật và đều có liên quan đến lẽ thật. Bởi vì đều liên quan đến lẽ thật, thì đối với các ngươi đây đều là sự cung ứng, là nhu cầu của các ngươi, có liên quan đến sự sống mà các ngươi sắp đạt được, có liên quan đến tương lai và đích đến của các ngươi. Cho nên về phần Ta, chắc chắn Ta không hề qua loa chút nào. Nếu bản thân các ngươi cứ luôn không coi trọng lời Đức Chúa Trời thì chỉ có thể nói là các ngươi ngu ngốc. Tại sao Ta nói các ngươi ngu ngốc? Bởi vì vóc giạc của các ngươi quá non nớt, với không tới lẽ thật, lý giải thì sai lệch và quá ấu trĩ. Cho nên, Ta coi các ngươi như trẻ lên ba thì thực sự không quá đáng chút nào. Như vậy không phải là không tôn trọng các ngươi và coi thường các ngươi, mà là vóc giạc thực tế của các ngươi quá nhỏ và các ngươi hoàn toàn không biết phân định. Lời này có chính xác không? (Thưa, chính xác.)
Về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể không dụ dỗ vừa mới được thông công, các ngươi đã hiểu được một chút rồi phải không? (Thưa, phải.) Những nội dung Ta thông công này, về cơ bản là nói từ phương diện Đức Chúa Trời nhập thể nói chuyện và công tác, nghĩa là nói từ sự thật về việc Đức Chúa Trời phán lời và công tác, cũng như từ sự lao tâm khổ tứ của Đức Chúa Trời. Như vậy người ta sẽ có thể thấy được rằng trong lời Đức Chúa Trời, công tác của Đức Chúa Trời và thực chất của Đức Chúa Trời quả thật không có thành phần dụ dỗ người ta vốn có nơi nhân loại bại hoại hoặc ma quỷ và Sa-tan, cũng không có ý đồ nào như vậy. Vậy các ngươi hiểu được bao nhiêu về Đức Chúa Trời nhập thể, con người có vẻ ngoài thông thường này? Có những sự thật nào có thể chứng minh phương diện nhân tính và phương diện thực chất thần tính của Đức Chúa Trời nhập thể là một thể, không có mâu thuẫn hay xung đột, là thống nhất, rằng Đức Chúa Trời nhập thể cũng không có biểu hiện dụ dỗ người ta, thứ vốn có nơi Sa-tan hay nhân loại bại hoại? Các ngươi hiểu được bao nhiêu về phương diện này? Hay là các ngươi đã nhận biết điều này từ những biểu hiện và sự bộc lộ nào của Đức Chúa Trời nhập thể? Có lẽ đa số mọi người vẫn chưa hiểu được, phải không? Các ngươi không hiểu, vậy Ta đành phải đích thân giới thiệu cụ thể, cứ phải giới thiệu mãi như thế này Ta cũng thấy phiền. Thực ra, khi giao tiếp và qua lại với các ngươi, bất kể là trên mạng hay trong ngoài đời thực, nếu các ngươi chú ý và để tâm mà thể nghiệm và lĩnh hội những biểu hiện và sự bộc lộ trong phương diện này của Đức Chúa Trời nhập thể thì các ngươi có thể phát hiện ra. Nhưng các ngươi quá thờ ơ, hơn nữa các ngươi cảm thấy chuyện này không phải là vấn đề quan trọng gì. Chẳng có ai để ý đến chuyện này, cho nên không phát hiện ra được. Bất kể các ngươi có để ý hay không, phương diện này đã liên quan đến lẽ thật về việc nhận biết Đức Chúa Trời thì chúng ta phải thông công. Khi thông công về phương diện không dụ dỗ, xét từ phương thức Đức Chúa Trời nhập thể qua lại với người ta, trước hết các ngươi nên hiểu một điều là Ta nói chuyện và làm việc với các ngươi thì không dò hỏi. Ta nói chuyện phiếm thì là nói chuyện phiếm, Ta đi thẳng vào vấn đề, nói thẳng nói thật, trong lòng nghĩ thế nào thì nói thế ấy. Cho dù đôi khi vì thông cảm với sự yếu đuối của ngươi, hoặc để giữ thể diện cho ngươi vì vóc giạc của ngươi còn non nớt, mà Ta dùng một số phương thức khôn ngoan để nói chuyện với ngươi, nhưng Ta cũng không dò hỏi, không dụ dỗ ngươi nói gì đó. Ngươi muốn nói thì nói, ngươi không muốn nói thì Ta cũng không hỏi, Ta không dò hỏi ngươi. Ngay cả khi muốn tìm hiểu tình hình của một số người, thì Ta cũng hỏi thẳng: “Lãnh đạo hội thánh của các ngươi thế nào? Người chị em phối hợp với ngươi tin Đức Chúa Trời được mấy năm rồi? Có nền tảng trong chuyện tin Đức Chúa Trời không? Ngươi thấy người chị em đó có phải là người mưu cầu lẽ thật không? Hai người phối hợp với nhau có vấn đề gì không?”. Các ngươi nghe mấy câu này xem, có tính chất dò hỏi không? (Thưa, không có.) Nếu ngươi không muốn nói, thì Ta không ép ngươi, cũng không dùng bất kỳ thủ đoạn hay quỷ kế nào để dụ dỗ ngươi, không tìm mọi cách để moi lời trong lòng ngươi ra. Ta không có sở thích đó, không hứng thú với cách làm này, và Ta chưa bao giờ làm như vậy. Ngươi muốn nói thì cứ nói hết mọi chuyện, bất kể nói tương đối khách quan hay là có thành kiến cá nhân, ngươi muốn nói thế nào cũng được, Ta nghe xong thì sẽ phân tích cụ thể. Nhưng xét từ góc độ của Ta, thì Ta nói chuyện với ngươi rất thẳng thắn, lời nói ra có nghĩa đen thế nào thì chính là nghĩa đó, Ta muốn tìm hiểu gì thì hỏi thẳng. Nếu ngươi cứ vòng vo không nói thẳng, chơi trò ngôn từ với Ta, đấu trí với Ta, thì Ta không nói chuyện với ngươi nữa. Ta không thích chơi trò ngôn từ, cũng không giở quỷ kế, Ta sẽ không tìm mọi cách để dò la. Nếu Ta muốn tìm hiểu tình hình của một người, chẳng hạn như người đó tin Đức Chúa Trời mấy năm rồi, có thật lòng tin Đức Chúa Trời không, lĩnh hội lẽ thật thế nào, có phải là người làm bổn phận toàn thời gian không, có đáng được bồi dưỡng không – nếu vì nhu cầu công tác mà Ta muốn tìm hiểu những tình hình này thì Ta sẽ hỏi thẳng, nhưng cụ thể người đó có những chuyện riêng tư nào, đời tư phía sau làm những chuyện gì, thì Ta không hỏi. Điều Ta muốn tìm hiểu là sự mưu cầu của cá nhân ngươi, thái độ của ngươi đối với lẽ thật và bổn phận, nếu chọn ngươi làm lãnh đạo thì ý chí, ý thức mang gánh nặng và nhân tính của ngươi thế nào, đức tin của ngươi lớn đến đâu, Ta tìm hiểu những điều này. Còn chuyện riêng tư của ngươi, chẳng hạn một tháng kiếm được bao nhiêu tiền, từng làm những chuyện không mấy vẻ vang nào, từng ve vãn người khác giới nào, từng lừa ai, hại ai, những chuyện này Ta thực sự không muốn biết và chưa bao giờ dò la. Có người nói với Ta rằng trước kia họ từng có vi phạm trong chuyện nam nữ, thì Ta nói: “Chuyện này ngươi đừng nói với Ta, mà hãy kín đáo cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời tha thứ cho ngươi thì trong lòng ngươi sẽ được cảm động, nếu Đức Chúa Trời không tha thứ cho ngươi thì ngươi cứ tiếp tục cầu nguyện. Ngươi đừng nói với Ta, Ta không muốn nghe những chuyện này”. Khi gặp các ngươi, chủ yếu là Ta nói một chút về chuyện tin Đức Chúa Trời, chuyện công tác của hội thánh, chuyện lối vào sự sống, hoặc vấn đề về tình trạng cá nhân mà các ngươi hỏi đến, hầu như toàn là những chuyện này, thỉnh thoảng cũng nói một chút về tình hình thế giới. Bất kể nói về chủ đề nào, Ta chỉ nói ra cách nhìn và quan điểm cá nhân của Ta về chủ đề đó, còn cụ thể ngươi nghĩ thế nào, nói thế nào đều được, ngươi muốn nói gì thì cứ nói nấy, muốn nói bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Nếu ngươi cảm thấy Ta là người mà ngươi không cần đề phòng, thì ngươi muốn nói gì cứ nói nấy; nếu trong lòng ngươi đề phòng và nghi kỵ Ta, sợ Ta biết tường tận chuyện của ngươi hoặc tiết lộ bí mật của ngươi nên không muốn nói nhiều, thì Ta cũng không cưỡng cầu, Ta cho ngươi tự do. Ta qua lại với người ta theo nguyên tắc này. Ta không bao giờ vì ngươi có chuyện trong lòng nhưng không chịu nói ra, nên Ta tìm mọi cách cho người lén lút tìm hiểu ngươi, hoặc khi ở trước mặt ngươi thì Ta dùng đủ cách dò hỏiđể tự ngươi nói ra, Ta không làm chuyện như vậy. Ta chưa bao giờ yêu cầu bất kỳ ai chủ động thật thà thú nhận với Ta, ngươi không cần phải thật thà thú nhận gì với Ta, Ta không yêu cầu ngươi chuyện này. Ngay cả khi ngươi thật thà thú nhận với Ta, có chuyện gì đều nói hết với Ta, thì vẫn có một điều ngươi không né tránh được, đó là ngươi phải mưu cầu lẽ thật. Đâu phải ngươi thật thà thú nhận với Ta rồi thì ngươi là người trung thực, không cần mưu cầu lẽ thật nữa, có thể được miễn hình phạt và sự phán xét. Thay vào đó, bất kể ngươi làm thế nào, Ta vẫn sẽ dùng phương thức của Ta, nên đối xử với ngươi thế nào thì Ta sẽ đối xử với ngươi thế ấy. Nhưng nếu chúng ta trò chuyện với nhau hoặc có bất kỳ sự qua lại nào mà ngươi muốn che giấu với Ta, tính toán với Ta, chơi trò chữ nghĩa, chơi trò trốn tìm với Ta, thì Ta tuyệt đối sẽ không dùng bất kỳ phương thức hay thủ đoạn nào để dò hỏi, khiến ngươi mắc câu, khiến ngươi thật thà thú nhận. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.)
Về phương diện không dò hỏi, có một chuyện các ngươi phải rõ. Sự hiểu biết của Đức Chúa Trời đối với nhân loại không dựa trên một vài sự bộc lộ, sống thể hiện ra hay cách sống cụ thể nào đó của nhân loại trong cuộc sống hiện thực, cũng không dựa trên chuyện người ta đã làm một vài việc nào đó. Vậy sự hiểu biết của Đức Chúa Trời đối với nhân loại, cũng như thái độ của Ngài sau khi đã hiểu rõ họ, dựa trên điều gì? Dựa trên sự hiểu biết của Đức Chúa Trời đối với thực chất bản tính Sa-tan. Vì vậy, sự hiểu biết của Đức Chúa Trời về nhân loại nghĩa là Ngài hiểu nhân loại có tâm tính bại hoại, hiểu thực chất bại hoại của nhân loại, hiểu nhân loại bị Sa-tan làm bại hoại và đùa bỡn, hiểu Sa-tan đã tiêm nhiễm vào nhân loại những tư tưởng và quan điểm sai lầm nào, vậy là đủ rồi. Như vậy đã đủ để phán xét và hành phạt ngươi, cũng đã đủ lý do để cung ứng cho ngươi lẽ thật và sự sống hầu cứu rỗi ngươi rồi. Cho nên, đừng tưởng rằng mình qua lại hay đối thoại với Ta thì nhất định phải thật thà thú nhận với ta. Có người nói: “Chẳng phải Ngài nói chúng con qua lại với Ngài thì trước hết phải thành thật sao?”. Thành thật là một dạng thái độ, không phải là thật thà thú nhận. Không phải nói ngươi là con người bại hoại, là tội nhân thì nhất định phải thật thà thú nhận hết mọi chuyện với Ta và chuyện gì cũng phải nói rõ với Ta. Không cần thiết như vậy, Ta không có nhu cầu đó, thái độ của Ta đối với ngươi không phải như vậy. Nếu ngươi cho rằng thành thật với Ta thì chuyện gì cũng phải thật thà thú nhận với Ta, vậy là sai lầm, đây là ngươi hiểu lầm thôi. Hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Cho nên, ngay cả khi ngươi có rất nhiều chuyện, rất nhiều lời khó nói hoặc không sẵn lòng nói trước mặt Ta, thì chuyện đó cũng không có nghĩa là ngươi không thành thật, chỉ cần xem tâm thái của ngươi thế nào thôi. Nếu có những lời không tiện nói, hoặc ngươi không sẵn lòng nói trước mặt nhiều người, vậy thì ngươi có thể không nói, ngươi tuyệt đối đừng lầm tưởng rằng Ta rất muốn biết tường tận về ngươi, muốn biết bí mật của ngươi. Ngươi tuyệt đối đừng hiểu lầm, Ta hoàn toàn không muốn biết những chuyện đó. Ta không muốn biết trước đây ngươi thế nào, cũng không muốn biết sau này ngươi sẽ ra sao, Ta chỉ quan tâm đến hiện tại của ngươi. Hiện tại ngươi có phải là người mưu cầu lẽ thật không, hiện tại ngươi hiểu được bao nhiêu lẽ thật, mỗi ngày ngươi có lối vào sự sống hay không, có bước vào những lẽ thật cần bước vào trong đời thực, chẳng hạn như có làm người trung thực, tận tụy làm bổn phận, thuận phục Đức Chúa Trời và tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật trong mọi sự hay không, Ta chỉ quan tâm những chuyện này. Cho nên trong lòng các ngươi tuyệt đối đừng lo ngại bất kỳ điều gì về Ta, cũng không cần lo lắng, nói rằng: “Làm người trung thực, có phải là chuyện gì cũng phải nói rõ với Ngài, chuyện gì cũng phải để Ngài biết không? Nếu con không nói, có phải Ngài sẽ tìm mọi cách để dò hỏi và dụ dỗ con nói ra không?”. Ta nói là không phải đâu. Chúng ta tán gẫu, đối thoại, làm việc, qua lại với nhau, thì chỉ cần giữ thái độ và tâm thái thành thật với nhau là đủ, đừng dò hỏi. Dò hỏi là chiêu trò thường dùng trong cách giao tiếp giữa người với người của nhân loại bại hoại, cũng là một phương thức xử sự họ thường dùng. Có những người cực kỳ hứng thú với chuyện riêng tư của người khác hoặc những việc người khác làm sau lưng, nhất là chuyện người khác có cách nhìn và đánh giá thế nào về mình, rốt cuộc họ xem mình vĩ đại hay nhỏ bé, cao quý hay thấp hèn, v.v.. Vì thế, họ thường dùng cách dò hỏi để dò la những chuyện này. Nói thật với các ngươi, Ta chẳng có chút hứng thú nào với những chuyện này. Các ngươi đừng nghĩ Ta giống bất kỳ người bình thường nào qua lại với các ngươi. Từ trước đến nay, Ta không quan tâm mình có địa vị trong lòng các ngươi hay không, bất kể là cao quý hay thấp hèn, vĩ đại hay nhỏ bé, Ta không quan tâm những chuyện này. Cho nên, khi đối thoại hay qua lại với Ta, các ngươi không cần có những lo ngại này. Nhân loại bại hoại qua lại với bất kỳ ai cũng luôn canh cánh trong lòng: “Rốt cuộc mình có địa vị thế nào trong lòng người khác? Ấn tượng của người khác đối với mình rốt cuộc là tốt hay không tốt?”. Còn có những người luôn ngẫm nghĩ: “Qua lại với họ thì mình có thể được lợi ích gì? Có thể chiếm được lợi gì? Mình có thể chiếm vị trí nào trong tập thể này? Người Ta có thể xem trọng mình không?”. Con người luôn canh cánh trong lòng những chuyện này, quan tâm đến những chuyện này. Ta chẳng bao giờ hỏi những câu này, cũng không dò la chuyện của người khác. Con người thì cứ luôn thích dò la những chuyện này, đây là sự bộc lộ tự nhiên của tâm tính Sa-tan bại hoại, cũng là điểm chung của nhân loại bại hoại. Một mặt, họ đặc biệt thích dò la chuyện riêng tư của người khác, đặc biệt hứng thú với chuyện riêng tư của người khác, mặt khác, họ đặc biệt muốn biết địa vị và giá trị của mình trong lòng người khác. Nhất là có một số lãnh đạo, người làm công, hoặc những người có chút ân tứ và tài cán, có chút uy danh trong hội thánh, họ đều đặc biệt chú trọng đến địa vị của mình trong lòng người khác và vị thế của mình giữa tập thể, đa số mọi người đều đặc biệt để tâm chuyện này. Có lúc họ hỏi người khác một số câu đặc biệt, ý định và dụng ý của họ không phải là để giải quyết vấn đề, mà là muốn tìm hiểu xem người khác có xem trọng và sùng bái mình không. Điều này cho thấy họ đặc biệt quan tâm đến vị trí của mình trong lòng người khác. Ngươi hiểu những chuyện này thì có ích gì? Người khác xem trọng ngươi thì sao chứ? Có thể thay thế việc ngươi mưu cầu lẽ thật sao? Nếu người khác xem thường ngươi, thì ngươi có thể trở nên tiêu cực và không tin Đức Chúa Trời nữa sao? Người khác xem trọng ngươi thì có thể có tác dụng gì chứ? Có tác dụng thúc đẩy hay là khích lệ hả? Chẳng có tác dụng gì cả. Còn có một số kẻ ác luôn điều tra thông tin của người khác, dò la xem người khác nói gì về mình sau lưng, có cách nhìn thế nào về mình, để từ đó biết ai phản đối mình nhất và là kẻ thù của mình, thậm chí còn dùng nhiều phương thức khác nhau để dò hỏi cho ra được lời thật lòng của người ta. Có một số người không chịu nổi sự dụ dỗ, cuối cùng nói ra sự thật, kết quả là trúng quỷ kế của kẻ ác. Rồi kẻ ác liền tìm mọi cách để đả kích và trả thù họ, áp bức và bài xích họ trong mọi chuyện, chèn ép họ đến mức thở không nổi, sống không bằng chết, như thể bị đại họa ập xuống đầu vậy. Họ cầu nguyện với Đức Chúa Trời thì cũng không cảm nhận được sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, lại không có ai giúp đỡ, bị kẻ ác dồn đến đường cùng. Cuối cùng họ không còn đức tin nữa, cảm thấy tin Đức Chúa Trời mà còn gặp phải kẻ ác, còn bị kẻ ác bách hại và trừng trị, họ thấy quá khó khăn và không muốn tin nữa. Không dễ thoát khỏi kẻ ác này đâu, ngươi đắc tội với kẻ ác thì giống như bị bọ cạp chích, giũ không ra, hất không đi, bản thân lại không có đức tin để chiến đấu với hắn, cuối cùng ngươi bị kẻ ác trừng trị. Nhân loại bại hoại này, bất kể là ma quỷ thuộc về Sa-tan hay là nhân loại có tâm tính bại hoại, thì đều có khuynh hướng này, cũng có thực chất này. Bởi vì đều có tâm tính bại hoại, cho nên những người khác nhau đều có vấn đề này ở những mức độ khác nhau, họ đều sẽ vì danh tiếng, địa vị và lợi ích của mình mà dò hỏi người khác, thậm chí còn có thể nắm thóp mà trừng trị người ta. Ngươi thấy đấy, vào thời mới giành chính quyền, Đảng Cộng sản muốn trừng trị cánh hữu thì nói với người ta rằng: “Kiến thiết đất nước thì cần nhân tài, các anh có ý kiến gì đối với Đảng, có cao kiến gì cho công cuộc xây dựng đất nước, thì nên nói ra cả đi. Người nói không có tội, người nghe nên cảnh tỉnh, các anh đều phải đưa ra lời khuyên!”. Kết quả có những người nghe xong liền nói: “Ôi, đất nước có biết bao việc phải làm, cần những nhân tài như chúng ta, đất nước đã xem trọng nhân tài như vậy thì chúng ta phải nói ra sự thật”. Những trí thức và nhân vật cấp cao này đều nói ra sự thật, cho rằng sẽ không có chuyện gì. Ngươi thấy đấy, Sa-tan dùng một cách nói rất bùi tai để dụ dỗ người ta nói thật. Trong tình trạng không hề đề phòng, người ta đã nói ra hết những lời thật lòng, kết quả vừa hay trúng quỷ kế của Sa-tan, Sa-tan nói: “Được rồi! Lần này nắm được thóp rồi, có chứng cứ để trị tội các ngươi rồi!”. Ngay sau đó Đảng Cộng sản phát động phong trào chống cánh hữu, gán mác cho những người nói thật đó thành cánh hữu, và những trí thức, nhân vật cấp cao này liền bị trừng trị. Sau đó Cách mạng Văn hóa bắt đầu, hễ ai là người có danh tiếng, có năng lực thì đều bị đưa vào “chuồng bò”, bị treo bảng “theo tư bản”, “phản cách mạng”, kết quả rất nhiều người bị trừng trị thê thảm. Ngươi thấy đấy, Sa-tan không hiểu thực chất của con người, bản thân nó không đi con đường đúng đắn, cũng không biết trong lòng con người nghĩ gì. Nó chỉ dụ dỗ con người nói thật, sau đó nắm thóp để kết tội và tàn hại con người đến chết. Đức Chúa Trời tạo dựng nhân loại này, rồi nhân loại đã bị Sa-tan làm bại hoại, từng bước một, ngày càng bại hoại sâu sắc hơn. Đức Chúa Trời nhìn thấy hết mọi chuyện này dưới tầm mắt Ngài, Ngài hiểu quá rõ, cho nên Ngài chọn thời điểm thích hợp để cứu rỗi con người. Đức Chúa Trời không bàn bạc với con người, cũng không hỏi ý kiến con người, đến thời điểm của Đức Chúa Trời thì Ngài nhập thể đến giữa nhân loại để bày tỏ lẽ thật, vạch rõ tâm tính bại hoại của con người, vạch rõ mọi vấn đề khác nhau của con người. Thông qua việc vạch rõ vấn đề của con người, Đức Chúa Trời khiến con người nghe thấy tiếng Ngài, đến trước mặt Ngài và nhận biết bản thân. Sau đó Đức Chúa Trời lại cung ứng lẽ thật cho con người để họ đi con đường đúng đắn. Đức Chúa Trời cứu rỗi nhân loại thông qua phương thức này và con đường này. Còn Sa-tan thì luôn nghĩ trăm phương nghìn kế để mê hoặc và làm bại hoại nhân loại. Nó mặc kệ con người nghĩ gì, mong đợi gì hay thiếu thốn gì, nó chỉ muốn dụ dỗ con người phạm tội, dụ dỗ con người rời xa Đức Chúa Trời và phản bội Đức Chúa Trời. Nó cản trở con người đọc lời Đức Chúa Trời và đến trước mặt Ngài. Sa-tan luôn muốn cám dỗ và dụ dỗ con người, nó dụ dỗ con người hành ác, dụ dỗ con người buông bỏ mọi phòng tuyến, để họ không chút đề phòng mà tin rằng nó thật lòng và thành khẩn, sau đó nương tựa nó, tiếp theo là có thể không chút đề phòng mà tiếp nhận sự đùa bỡn, tiếp nhận việc bị nó làm cho bại hoại, rồi bị nó hoàn toàn nuốt chửng. Phải vậy không? (Thưa, phải.) Đức Chúa Trời biết thực chất của nhân loại, biết tâm tính bại hoại của nhân loại, biết căn nguyên sự phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời của con người. Cho nên Đức Chúa Trời không cần hiểu cụ thể ngươi đã nghĩ những gì và làm những gì sau lưng, hay là còn có những chuyện riêng tư nào chưa nói. Ngài vốn đã hoàn toàn có thể vạch rõ thực chất bản tính của ngươi, khiến tâm tính bại hoại và thực chất bản tính của ngươi đều bị lộ ra và chân tướng được sáng tỏ. Trên nền tảng đó, Đức Chúa Trời khiến ngươi cam tâm tình nguyện tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài. Đức Chúa Trời khiến ngươi nhận biết thực chất của mình với mục đích là để ngươi có thể thực sự hối cải, có thể thuận phục Đức Chúa Trời, hướng về Đức Chúa Trời, chứ tuyệt đối không phải là để trừng trị ngươi, khiến ngươi tiêu cực và sa đọa. Ngươi nên hiểu sự lao tâm khổ tứ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có trách nhiệm đối với ngươi và quan tâm ngươi, cho nên Đức Chúa Trời làm những chuyện này một cách rất khôn ngoan, rất có trình tự và suy xét đầy đủ cho ngươi. Mỗi bước Ngài đều suy xét cho ngươi, mỗi bước đều được an bài và hoạch định kỹ lưỡng. Mặc dù như vậy thì không hợp với quan niệm của con người, nhưng cuối cùng người ta sẽ có thể cảm nhận được sự lao tâm khổ tứ của Đức Chúa Trời.
Đối với chuyện cứu rỗi con người, Đức Chúa Trời không hề qua loa chút nào, mà Ngài lao tâm khổ tứ và dốc hết tâm huyết vào chuyện này. Trên cơ sở là vạch rõ thực chất bại hoại của con người, thông qua việc thông công về các vấn đề trên mọi phương diện, Đức Chúa Trời làm cho con người hiểu rõ hơn về vấn đề và thực chất bản tính của họ. Sau đó, theo hướng tích cực, Ngài lại cung ứng cho ngươi, để ngươi hiểu thế nào là lẽ thật là gì và thế nào là luận điệu sai lầm, cái gì là đúng và cái gì là sai, cái gì là điều tích cực và cái gì là điều tiêu cực, rồi ngươi từng bước đi lên con đường đúng đắn. Ngươi thấy đấy, hết thảy mọi việc Đức Chúa Trời làm đều là để cứu rỗi ngươi. Xét từ mọi công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm, thì xuất phát điểm của Ngài, bất kể xét từ góc độ nhân tính hay góc độ thần tính, đều đồng nhất với xuất phát điểm của Đấng Tạo Hóa. Cho nên, Con người nhập thể này cũng mang thái độ như vậy khi qua lại và tiếp xúc với các ngươi, mục đích của Ngài chính là đưa các ngươi vào quỹ đạo đúng đắn trong việc tin Đức Chúa Trời và nâng đỡ các ngươi đi lên con đường được cứu rỗi. Vì vậy, lúc Ta đối thoại và qua lại với các ngươi, từ trước đến nay, đều không có vấn đề dò hỏi. Nếu Ta hỏi các ngươi vài câu thì cũng chỉ đơn thuần là hỏi, không có chuyện Ta dùng cách dò hỏi để dụ dỗ các ngươi làm một số chuyện mà các ngươi không muốn làm, không hề có chuyện như vậy. Giờ các ngươi hiểu rồi chứ? (Thưa, đã hiểu.) Một phương diện nữa, Ta chưa bao giờ quan tâm đến chuyện ở đằng sau thì các ngươi nhìn nhận về Ta thế nào, Ta cũng không nghĩ rằng: “Các ngươi thấy vóc người ta không cao, tướng mạo chỉ bình thường thế này, cách nói chuyện và giọng điệu thế này, thì từ đó có khiến các ngươi nảy sinh quan niệm không? Ta có vị trí thế nào trong lòng cách ngươi?”. Ta chưa bao giờ dò la những chuyện này, khi qua lại với các ngươi, Ta cũng chưa bao giờ dùng bất kỳ cách nào để dò la xem các ngươi nhìn nhận thế nào về mình, Ta không quan tâm những chuyện này. Vì sao Ta không quan tâm? Ta không màng những chuyện này, cái gì mà tôn quý, cao cả, có thân phận, có giá trị bản thân cao, độc nhất vô nhị, vĩ đại, cao thượng, Ta chẳng quan tâm những chuyện này. Cao thượng hay không cao thượng gì chứ, nó thì thay thế được cái gì? Ngay cả khi các ngươi không có bất kỳ quan niệm nào về Ta, và Ta nói gì ngươi đều nghe nấy, như vậy thì sao chứ? Ta bớt nói chuyện và làm công tác được sao? Chúng chẳng thay thế được gì cả. Đương nhiên đó là chuyện thứ yếu, chủ yếu là bản thân Ta không quan tâm những chuyện này. Vì sao Ta không quan tâm thì Ta cũng không biết, Ta chỉ không thích quan tâm những chuyện này. Ta làm một số chuyện cho các ngươi, bất kể là chuyện trong cuộc sống của các ngươi, hay là chuyện về lối vào sự sống của các ngươi, chuyện về đích đến và tương lai của các ngươi, cho dù Ta đã nói một số lời hay làm một số chuyện cụ thể, thì Ta chẳng bao giờ quan tâm: “Ở đằng sau có ai đội ơn Ta không? Có ai cảm kích đến rơi lệ không? Ta làm những chuyện đó thì có ai ghi ơn Ta không?”. Ta thực sự không quan tâm, cũng không dò la những chuyện này. Một mặt, khi nhóm họp và thông công với các ngươi, Ta chưa bao giờ dò la những chuyện này; mặt khác, khi thông công với các ngươi về công tác, Ta cũng không dò la những chuyện này. Bất kể đến nhóm nào, Ta chỉ tìm hiểu: “Gần đây các ngươi thế nào rồi? Có vấn đề gì không giải quyết được không? Có thể nắm vững nguyên tắc khi làm bổn phận không?”, Ta chỉ nói những chuyện này. Ta không quan tâm những lời Ta nói và những việc Ta làm tạo ra ảnh hưởng lớn đến đâu giữa các ngươi, có bao nhiêu người cảm kích Ta, bao nhiêu người không cảm kích Ta, Ta phải bổ sung cho công tác này thế nào để có thêm nhiều người cảm kích Ta, những chuyện này Ta đều không làm. Ta tìm hiểu tình hình làm bổn phận của các ngươi, chỉ ra vấn đề và chỗ sai lệch của các ngươi để các ngươi sửa đổi, Ta làm vậy là để công tác được làm tốt. Nếu có người không cảm kích, không đón nhận, thì Ta cũng hết cách, Ta chỉ có thể làm đến mức này thôi. Về mặt đời sống, Ta đã tận lực sắp xếp và giúp đỡ các ngươi rồi, nếu có những người cá biệt thấy không hài lòng thì Ta cũng hết cách, đó là do yêu cầu cá nhân của họ quá cao. Ta cứ nhắc đi nhắc lại nguyên tắc và mục đích của nhà Đức Chúa Trời khi làm chuyện này là gì, như vậy là đủ rồi. Khi Ta đến một nơi nào đó, mà thấy có người đang thông công, nói rằng Đức Chúa Trời nói gì, làm gì, thì Ta liền nhanh chóng rời đi, Ta không nghe trộm, không tò mò, và không quan tâm: “Các ngươi đang nói gì về Ta vậy? Có nói xấu Ta không? Có nói những lời mang quan niệm về Ta không? Nếu có thì Ta sẽ tìm mọi cách trừng trị ngươi một trận, đè bẹp khí thế của ngươi xuống”, Ta không làm những chuyện này, các ngươi muốn nói thế nào thì cứ nói thế ấy. Con người nhận biết Đức Chúa Trời là một bài học lâu dài, không phải chuyện một sớm một chiều. Khi các ngươi thông công về việc nhận biết Đức Chúa Trời, bất kể chúng có pha tạp quan niệm hay chúng là nhận thức thực sự, thì đều không liên quan đến đúng sai, chỉ liên quan đến chuyện chúng có phù hợp với lẽ thật hay không. Vì vậy, nếu chủ đề các ngươi thông công có chỗ lệch lạc thì Ta có thể sửa lại cho các ngươi, nếu có quan niệm và tưởng tượng thì chúng ta sẽ thông công. Còn nếu những gì các ngươi thông công đều đúng và phù hợp với lẽ thật, chỉ là có phần nông cạn, thì các ngươi cứ từ từ mà nhận biết.
Về chuyện không dò hỏi, các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Không dò hỏi nghĩa là khi nói chuyện hoặc tán gẫu với các ngươi thì Ta đứng ở vị trí của một người bình thường, không hống hách, cũng không trịch thượng, không áp chế ngươi. Nguyên tắc của Ta khi qua lại với ngươi chính là dùng tấm lòng và sự trung thực để đối thoại với ngươi, không dụ dỗ, cũng không dò hỏi. Nghĩa là Ta không giăng bẫy cho ngươi lỡ lời, không nói những lời tưởng đúng mà sai. Chỉ là có một số chuyện nếu không phải chủ đề chính thì cũng có thể nói một câu chung chung mang tính khái quát rồi cho qua, nói không quá cụ thể, nhưng cũng không được nói theo kiểu tưởng đúng mà sai. Nghĩa là lời Ta nói không dụ dỗ ngươi suy nghĩ theo hướng không đúng đắn, không dụ dỗ ngươi phạm tội, không dụ dỗ ngươi sa đọa, không dụ dỗ ngươi nảy sinh quan niệm về Đức Chúa Trời, không dụ dỗ ngươi hiểu lầm hay đề phòng Đức Chúa Trời, càng không khiến ngươi có thái độ nghi ngờ đối với một phương diện lẽ thật nào đó. Trong những lời Ta nói không có những lời kiểu như “Các ngươi ăn rồi chưa chắc sẽ chết” mà Sa-tan đã nói, cái “chưa chắc” này mang tính chất dụ dỗ. Ta nói chuyện với các ngươi thì không có những lời mang tính chất dụ dỗ kiểu “chưa chắc” này. Các ngươi có thể xem và kiểm tra trong mọi nội dung Ta thông công có những lời kiểu này hay không. Có những từ nhất định mà chắc là các ngươi không xác định được và không nhận biết cho thấu đáo được, chính là những từ như “có lẽ”, “có khả năng”. Có lẽ các ngươi chưa ý thức được nguyên tắc hoặc nguyên nhân Ta dùng những từ này. Ta dùng những từ này là có nguyên nhân cả, bởi vì các phương diện lẽ thật mà chúng ta thông công không nhắm vào một loại người, cũng không nhắm vào một cá nhân nào đó, mà là nhắm vào tất cả mọi người đi theo Đức Chúa Trời và tiếp nhận lời Đức Chúa Trời. Cái “tất cả” vừa nói đó đã bao gồm tình trạng của đủ loại người khác nhau, tức là cùng một vấn đề bao hàm tình trạng của rất nhiều loại người trong những trường hợp khác nhau và hoàn cảnh khác nhau, thì chỉ có thể dùng “có lẽ” và “có khả năng” để diễn đạt. “Có lẽ” và “có khả năng” có ý nghĩa gì? Chính là có lẽ ngươi ở trong tình trạng này, có lẽ ngươi ở trong tình trạng kia, có lẽ ngươi đang ở trong hoàn cảnh này, có lẽ ngươi đang ở trong hoàn cảnh kia. Nhưng chữ “có lẽ” này không phải là không xác định, mà nó bao quát một số người. Cái “có lẽ”, “có khả năng” này không mang ý nghĩa dụ dỗ như câu “chưa chắc sẽ chết” mà Sa-tan nói, mà là Ta tùy tình hình để áp dụng, để ngươi tự đối chiếu xem mình thuộc tình trạng nào, đang ở trong hoàn cảnh nào. Chính vì đối diện với quá nhiều tập thể người, đối diện với đủ loại tình trạng quá phức tạp nảy sinh nơi con người, nên về phần Ta chỉ có thể dùng “có lẽ” và “có khả năng” để diễn đạt, sau đó để các ngươi tự đối chiếu với bản thân. Các ngươi đã hiểu vấn đề về phương diện này chưa? (Thưa, đã hiểu.) Các ngươi đã hiểu vấn đề về phương diện này rồi thì chúng ta nói đến chủ đề tiếp theo.
Trong chuyện không dụ dỗ còn có một chủ đề nữa, đó là không xúi giục, Đức Chúa Trời không xúi giục ngươi làm một chuyện nào đó. Điều ẩn sau mà sự xúi giục này nhắm đến là một số chuyện phi nghĩa, chuyện sai trái, chuyện sai lầm, hoặc một số việc ác khiến ngươi sa đọa, khiến ngươi chống đối Đức Chúa Trời và rời xa con đường đúng đắn. Khi Đức Chúa Trời nhập thể nói chuyện với các ngươi, hoặc qua lại và tiếp xúc với các ngươi, dẫn dắt các ngươi, thì những lời Ngài nói, những công tác Ngài làm đều là để đưa các ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời và đi lên con đường đúng đắn. Mỗi một câu Ngài nói ra đều là để các ngươi hiểu rõ hơn về chân tướng sự thật, có thể có quan điểm và lập trường đúng đắn để nhận biết con người, sự việc và sự vật, có thể hiểu chính xác hơn tâm ý của Đức Chúa Trời và tiêu chuẩn mà Ngài yêu cầu. Đức Chúa Trời không có một lời nào dùng phương thức xúi giục để khiến các ngươi chống đối Ngài, khiến các ngươi chiến đấu với Sa-tan và hy sinh vô nghĩa. Trong chuyện đối đãi với Đức Chúa Trời, tâm ý của Đức Chúa Trời là muốn làm cho con người có thể thuận phục Ngài và đứng ở góc độ của loài thọ tạo mà đối đãi với Ngài. Bất kể gặp phải chuyện gì, thái độ con người nên có trước hết chính là đứng ở góc độ của loài thọ tạo mà đón nhận từ Đức Chúa Trời và thuận phục Ngài, đây là về phương diện tổng thể, đương nhiên đây cũng là mục đích trong mọi lời Ta nói với các ngươi và nguyên tắc Ta yêu cầu các ngươi. Còn trong chuyện đối đãi với Sa-tan, đối đãi với thế gian, đối đãi với thế lực thù địch bách hại các ngươi và bất kỳ ai bách hại các ngươi, thì nguyên tắc mà Ta yêu cầu các ngươi chính là đối đãi bằng sự khôn ngoan. Như Đức Chúa Jêsus đã phán: “Hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu” (Ma-thi-ơ 10:16). Ngươi phải giống như chim bồ câu mà thuận phục Đức Chúa Trời, phải giống như rắn mà có sự khôn ngoan để đối đãi với thế gian này, với những người đối địch ngươi, với kẻ ác, với thế lực thù địch hùng mạnh, với chính quyền hùng mạnh đối địch với Đức Chúa Trời. Thực tế hơn một chút, thì chuyện này nghĩa là, về lúc gặp phải một số kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ trong hội thánh hoặc khi đối diện thế lực thù địch bên ngoài, chúng ta đã thông công về một số sự khôn ngoan và cách đối đãi cụ thể hơn. Một mặt, những cách đối đãi và nguyên tắc thực hành cụ thể này khiến ngươi biết chính xác hơn nên làm thế nào và giữ nguyên tắc nào thì mới hợp tâm ý Đức Chúa Trời, đây là điều quan trọng. Mặt khác, chúng là để cố gắng bảo vệ các ngươi, bảo vệ sự an toàn nhân thân của các ngươi, bảo vệ các ngươi khỏi rơi vào cám dỗ, khỏi bị Sa-tan dụ dỗ, khỏi bị Sa-tan nắm thóp, khỏi bị Sa-tan bắt đi, cũng khỏi bị thế lực thù địch quấy nhiễu và khống chế mà rơi vào khốn cảnh, rơi vào tiêu cực, yếu đuối và không còn đức tin để đi theo Đức Chúa Trời – tóm lại, chính là tìm mọi cách bảo vệ các ngươi. Mục đích của Ta khi dạy cho các ngươi sự khôn ngoan và con đường nên đi, chính là để các ngươi có thể vững vàng giữ chặt vị trí vốn có của mình, có thể thuận lợi hoàn thành bổn phận Đức Chúa Trời giao phó cho các ngươi một cách đạt tiêu chuẩn, đi cho tốt đoạn đường này. Nếu ngươi rơi vào cám dỗ, rơi vào đủ loại khốn cảnh, rơi vào cạm bẫy hoặc vòng vây của Sa-tan, đối mặt với khốn cảnh hoặc mối nguy hiểm đến tính mạng, thì ngươi sẽ không dễ gì hoàn thành bổn phận Đức Chúa Trời giao phó và mưu cầu lẽ thật để được cứu rỗi. Chuyện ngươi có được cứu rỗi hay không sẽ là ẩn số, là một dấu hỏi rất lớn, như vậy là có vấn đề rồi. Cho nên Ta bảo các ngươi phải đơn sơ như chim bồ câu và khôn khéo như rắn. Điểm khôn khéo như rắn này rất quan trọng, nó làm cho ngươi đối đãi với đủ loại kẻ ác, kẻ địch lại Đấng Christ, đủ loại tà thuyết, luận điệu sai lầm và đủ loại thế lực bách hại, đàn áp ngươi với sự khôn ngoan và nguyên tắc, để ngươi có thể an toàn và thuận lợi đi đến cuối con đường và có hy vọng được cứu rỗi. Cho nên, thông thường khi gặp một số chuyện giao tiếp với thế giới bên ngoài, nhà Đức Chúa Trời sẽ tìm một số anh chị em có sự khôn ngoan và từng trải để xử lý. Còn đối với một số người có vóc giạc nhỏ và trẻ tuổi, hoặc không có bất kỳ sự từng trải nào và ngu muội, thậm chí là một số người hồ đồ, thì chúng ta không khuyến khích họ đi, nhà Đức Chúa Trời cũng không sắp xếp như vậy. Có những người nhìn bề ngoài có vẻ bạo gan lắm, trông rất có năng lực, nhưng thực ra lại không có sự khôn ngoan. Không có sự khôn ngoan mà còn bạo gan thì gọi là gì? Đây gọi là xông bừa, nói theo cách dân dã là kẻ bộp chộp. Nếu loại người này đi xử lý những chuyện cần giao tiếp với thế giới bên ngoài thì chắc chắn sẽ xảy ra vấn đề. Cho nên khi gặp những chuyện cần giao tiếp với thế giới bên ngoài này, nếu hội thánh cần làm công tác này thì chúng ta tìm người thích hợp để làm, như vậy thì rất tốt. Bất kể là người được Đức Thánh Linh sử dụng hay là Ta, cũng chưa bao giờ sắp xếp các ngươi ra đường diễu hành và biểu tình, càng không yêu cầu các ngươi đi bảo vệ quyền lợi chính trị hay rao truyền phúc âm cho loại người nổi tiếng nào, nhà Đức Chúa Trời không bao giờ làm những việc này. Các ngươi có thấy nhà Đức Chúa Trời từng sắp xếp loại công tác này chưa? (Thưa, chưa.) Ngay cả khi rao truyền phúc âm thì cũng là rao truyền cho những người trong tôn giáokhao khát lẽ thật, còn đối với những người Pha-ri-si và những người ăn bánh cho no bụng, thì không cần để ý. Nhà Đức Chúa Trời chưa bao giờ xúi giục các ngươi mạo hiểm, hay là để các ngươi rơi vào cám dỗ hoặc rơi vào cạm bẫy của Sa-tan, nghĩa là không đẩy các ngươi vào hố lửa, thay vào đó, tìm mọi cách dùng năng lực và điều kiện hiện tại của nhà Đức Chúa Trời để bảo vệ các ngươi. Các ngươi xem, chẳng phải nhà Đức Chúa Trời làm vậy sao? (Thưa, phải.) Ví dụ, có nơi xảy ra hỏa hoạn thì nên gọi điện liên hệ với sở cứu hỏa để dập lửa, còn các anh chị em thì nên nhanh chóng sơ tán, công việc chữa cháy mà để nhân viên chuyên nghiệp làm thì sẽ an toàn hơn. Đây chính là bảo vệ các ngươi, không để các ngươi mạo hiểm, không để các ngươi rơi vào cám dỗ, cũng không để các ngươi rơi vào cạm bẫy của Sa-tan. Tương tự, về kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác, kẻ chẳng tin và đủ loại nhân vật tiêu cực khác xuất hiện trong hội thánh, đây cũng là điều Đức Chúa Trời cho phép xảy đến. Ta thông công với các ngươi để giúp các ngươi học cách phân định họ, sau đó dạy các ngươi dùng phương thức nào để đối đãi với họ, cuối cùng nhà Đức Chúa Trời lập ra các sắc lệnh quản trị để xử lý những người này, phân họ theo từng loại, sau khi đã phân định rõ kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác, kẻ chẳng tin, những kẻ gây gián đoạn và quấy nhiễu, thì thanh lọc họ đi, để các ngươi có thể an tâm làm bổn phận. Các ngươi nói xem, nhà Đức Chúa Trời làm công tác này thế nào? (Thưa, tốt.) Sau khi công tác này được làm tốt, hội thánh ở các nước không còn những người gây gián đoạn và nhiễu loạn nữa, đời sống hội thánh trở nên yên bình. Kẻ ác bị thanh trừ thì hội thánh lập tức được thanh bình, đa số mọi người cũng yên ổn trong lòng, có thể nhóm họp một cách bình thường, trật tự đời sống hội thánh cũng được bình thường và các hạng mục công tác khác nhau cũng có thể được tiến hành bình thường. Xét từ điểm này, có phải ở nhà Đức Chúa Trời thì lẽ thật nắm quyền không? (Thưa, phải.) Nhà Đức Chúa Trời làm công tác này là để đa số những người sẵn lòng mưu cầu lẽ thật, người có thể tiếp nhận lẽ thật và người có chút thật lòng đối với bổn phận có thể yên lòng làm bổn phận, yên lòng nghe giảng đạo và yên lòng mưu cầu lẽ thật, đây là xét về công tác của hội thánh. Ngoài ra, xét về bản thân Ta, khi Ta tiếp xúc với các ngươi hoặc làm bất kỳ chuyện gì, có phải Ta đều cố hết sức bảo vệ các ngươi không? (Thưa, phải.) Ta có xúi giục các ngươi làm những việc kẻ ác làm và đi con đường kẻ ác đi không? (Thưa, không.) Một mặt, Ta cung ứng lẽ thật cho các ngươi, để các ngươi có thể hiểu nguyên tắc lẽ thật, nhìn thấu sự việc, phân định đủ loại người, có sự khôn ngoan để đối đãi với đủ loại kẻ ác và xa lánh đủ loại kẻ ác. Mặt khác, khi các ngươi gặp một số chuyện nguy hiểm, Ta nói cho các ngươi biết cách xử lý, nói cho các ngươi biết làm thế nào để với cơ sở là thuận phục sự sắp đặt của Đức Chúa Trời mà tránh rơi vào cám dỗ và cạm bẫy của Sa-tan, Ta bảo các ngươi đừng làm kẻ ngu muội, thấy họa thì tránh xa, thì né đi. Ta chưa bao giờ kích động các ngươi, chưa bao giờ xúi giục các ngươi, cũng chưa bao giờ khuyến khích các ngươi đi đến những nơi nguy hiểm. Thay vào đó, Ta bảo các ngươi là nếu thành phố này có nguy hiểm, có bách hại, thì hãy chạy sang thành phố khác. Ngươi thấy đấy, vậy chẳng phải là có đường để đi sao? (Thưa, phải.) Ta chưa bao giờ nói: “Trung Cộng đàn áp và tàn hại chúng ta như vậy, loài người này tà ác đến mức không dung tha chúng ta, chúng ta phải đấu với họ! Hãy giơ biểu ngữ, kéo băng rôn, ra đường diễu hành, vạch trần sự đen tối và tà ác của thế giới này!”. Ta chưa hề nói những lời như vậy, cũng chưa hề bảo các ngươi làm những chuyện như vậy. Ta nói nhiều lời như vậy đều là để các ngươi tiếp nhận lẽ thật và mưu cầu lẽ thật, Ta còn thường xuyên bảo các ngươi bất kể ở đâu sinh sống cũng phải có khuôn phép và đúng bổn phận, tuân thủ pháp luật, đừng để người ngoại đạo nắm thóp và kiếm chuyện. Chúng ta không tham gia chính trị của người ngoại đạo, cũng không đối chọi với chính phủ nào, chúng ta cứ làm bổn phận của mình, âm thầm lặng lẽ làm tốt bổn phận, hoàn thành tốt công tác nên làm và làm chứng thật tốt cho Đức Chúa Trời, đây là điều quan trọng nhất, những chuyện khác thì không cần để tâm. Có phải Ta nói với các ngươi như vậy không? (Thưa, phải.) Chúng ta nhận biết thế giới này, nhận biết trào lưu tà ác và nhận biết thực chất bại hoại của nhân loại bại hoại, không phải là để đi ngược dòng, không phải để đối chọi với quốc gia hay chính phủ nào, mà là để càng thêm hiểu lẽ thật và càng thêm chắc chắn rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật. Mục đích của việc nhận biết những chuyện này là để có thể thuận phục Đức Chúa Trời, đi lên con đường đúng đắn và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Thế giới đen tối thế nào không liên quan đến chúng Ta, chúng ta đã từ biệt nó rồi, phải vậy không? Các ngươi đã rõ về phương diện không xúi giục này chưa? (Thưa, đã rõ.) Thông công về phương diện không xúi giục này, chủ yếu là nói cho các ngươi biết rằng khi làm bất kỳ việc gì đều phải biết nguyên tắc làm việc là gì. Làm việc gì cũng đừng dựa vào huyết khí hay sự dũng cảm nhất thời mà tranh đấu với người khác và đòi lẽ phải. Thay vào đó, các ngươi làm việc gì cũng phải có nguyên tắc, phải cố gắng thực hành lời Đức Chúa Trời, cố gắng chiếu theo nguyên tắc lẽ thật và tâm ý Đức Chúa Trời mà hành động, làm theo tâm ý Đức Chúa Trời. Các ngươi đã rõ về phương diện này chưa? (Thưa, đã rõ.) Những việc làm và sự bộc lộ Đức Chúa Trời nhập thể không mang đến cho các ngươi sự xúi giục, các ngươi cũng nên nhận biết về phương diện này. Đương nhiên, đã nhận biết rồi thì các ngươi nên thêm xác tín về con đường mình nên đi là gì, con đường mình nên tuân theo là gì, chứ không phải nhận biết về mặt đạo lý rồi là xong.
Trong chuyện không dụ dỗ còn có một biểu hiện cụ thể nữa, đó là không kích động. Không kích động thì có điểm tương tự với không xúi giục, những điểm tương đồng thì Ta không nói nữa, mà sẽ nói đơn giản một lượt về những điểm khác biệt. Khi phân định các loại người trong hội thánh thì có liên quan đến việc phân định kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác và các loại người gây nhiễu loạn, gián đoạn công tác của nhà Đức Chúa Trời. Một mặt, các ngươi phải có sự phân định về phẩm chất nhân tính của những người này và ruồng bỏ những người này, mặt khác, nhà Đức Chúa Trời có cách xử lý tương ứng đối với những người này. Về phần các ngươi, điều quan trọng nhất cần làm là nhận biết tâm tính bại hoại và thực chất bại hoại của các loại người khác nhau và có thể nhận biết thực chất của con người. Sau khi có nhận thức thì ngươi không nên làm loại người đó, cũng không nên làm loại chuyện đó, và ngươi cũng nên nhận biết, buông bỏ những tình trạng và biểu hiện, cũng như những ý định, động cơ và quan điểm cụ thể nào giống với họ trong hành động của mình. Mục đích phân định loại người này không phải là để kích động một nhóm người đi công kích một nhóm người khác, không phải để đấu tranh phe phái, điểm này có rõ ràng không? (Thưa, rõ ràng.) Ngươi thấy đấy, khi thông công về một số hành vi và biểu hiện của kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác trong các buổi nhóm họp chính thức, chúng ta chưa bao giờ nêu tên, chỉ nhắc đến biểu hiện của loại người này, sau đó vạch trần và mổ xẻ thực chất của một số hành vi nơi loại người này cùng những quan điểm mà họ có, cuối cùng là xác định tính chất xem thực chất của họ là gì. Xét về dụng ý và mục đích thì thông công như vậy là để các ngươi có thể nhận biết và thấy rõ bộ mặt thật và thực chất của Sa-tan, để các ngươi càng biết rõ Đức Chúa Trời yêu thích loại người nào và chán ghét loại người nào. Ngoài ra, đối với bản thân các ngươi, thì làm vậy để các ngươi biết đi con đường nào là đúng đắn. Đức Chúa Trời không thích loại người nào thì các ngươi nên đề phòng loại người đó, phải vứt bỏ những cách làm sai trái của họ, cũng nên buông bỏ những tư tưởng và quan điểm sai lầm của họ. Mục đích chúng ta thông công về những vấn đề này vốn không phải là để kích động các ngươi đi công kích loại người này. Ngay cả khi thông qua mối thông công mà người ta có sự phân định về họ, trong lòng chán ghét họ, có thể ruồng bỏ họ và không qua lại với họ nữa, thì mối thông công như vậy cũng không phải là kích động. Nghĩa là việc thông công những nội dung và chủ đề này chẳng liên quan gì đến những chiến dịch trừng trị người khác, hay đấu tranh đảng phái và phe phái trong thế giới ngoại đạo. Đấu tranh phe phái là vì quyền lực, dục vọng và lợi ích. Còn chúng ta thông công, vạch rõ và phân định một số người như vậy là để ngươi thêm hiểu lẽ thật. Mục đích là để đưa ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, để ngươi đi con đường đúng đắn, phân định được đâu là điều tích cực và đâu là điều tiêu cực, giúp ngươi nhờ chuyện này mà nâng cao năng lực phân định đúng sai. Đối với người bị vạch trần, nếu họ có thể hối hận và có lòng hối cải, thì bất kể các ngươi có chấp nhận họ hay không, về phần Đức Chúa Trời, Ngài vẫn chấp nhận họ. Chấp nhận có nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chúa Trời chấp thuận sự hối cải của họ, nếu họ hối cải thì Đức Chúa Trời không định tội nữa. Nhưng sự hối cải của con người là điều khó mà có được, đúng không? (Thưa, đúng.) Nếu họ hành ác và vi phạm, thì chúng ta cũng nên giúp đỡ họ, không thể gạt phăng họ đi, nhận định người này vô phương cứu vãn và không thể được cho cơ hội nữa, rồi thanh trừ họ khỏi hội thánh, chúng ta không làm như vậy. Nhà Đức Chúa Trời đã thiết lập hội thánh toàn thời gian, hội thánh bán thời gian, hội thánh thông thường và nhóm B, nếu người ta chưa đến mức vô phương cứu vãn thì đều được cho cơ hội hối cải. Thậm chí có rất nhiều người có biểu hiện giống với kẻ địch lại Đấng Christ và con rồng lớn sắc đỏ, tức là có những biểu hiện cùng loại, thì chúng ta cũng không trực tiếp thanh trừ họ. Trừ phi họ là kẻ địch lại Đấng Christ với tình tiết đặc biệt nghiêm trọng, đã mê hoặc rất nhiều anh chị em và gây tổn thất quá nghiêm trọng cho công tác của hội thánh, không thể dùng tiền bạc để đo lường nổi, những người như vậy thì trực tiếp bị xác định tính chất là kẻ địch lại Đấng Christ và bị khai trừ. Ngoài trường hợp nghiêm trọng nhất này, những người còn lại đều được cho cơ hội hối cải, không bị trực tiếp xác định tính chất là đối tượng bị diệt vong. Lý do cho họ cơ hội là vì mỗi một người đều mới lần đầu tiếp nhận công tác trong thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, đâu phải họ đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời biết bao nhiêu năm, đã nghe quá nhiều bài giảng, đã phạm lỗi mấy lần và vẫn được cho cơ hội, mà là gì? Rất nhiều người hành ác là mới phạm lần đầu, hoặc không phải cố ý, hoặc có một số nguyên nhân khác. Bất kể có bao nhiêu nguyên nhân, thực ra xét theo tình hình thực tế thì họ đều không nên hành ác, nhưng nhà Đức Chúa Trời vẫn chừa cho người ta lối thoát và cơ hội hối cải, quan sát biểu hiện của họ hết lần này đến lần khác. Có những người không hối cải sau khi hành ác thì bị chuyển từ hội thánh toàn thời gian hoặc bán thời gian đến hội thánh thông thường hoặc nhóm B, ở nhóm B, nếu họ vẫn không hối cải mà cứ tiếp tục hành ác và gây nhiễu loạn, thì cuối cùng mới bị thanh trừ khỏi hội thánh. Những người này đều vì hành ác quá nhiều và đã nhiều năm mà vẫn không có chút hối cải nào, nên mới bị thanh trừ. Vậy thì họ chỉ có thể tự trách mình đã không tiếp nhận lẽ thật, bởi vì nhà Đức Chúa Trời đã cho họ mấy cơ hội hối cải mà họ đều không trân trọng, đều bỏ lỡ, chuyện này không thể trách người khác được. Tóm lại, mục đích của Ta khi nói những chuyện này là gì? Bất kể chúng ta phân định người nào hay xử lý người nào, thì mục đích không phải để kích động người ta đứng lên trừng trị họ, không phải để kích động người ta đứng lên đấu tranh phe phái, đấu tranh bè nhóm. Mà thay vào đó, mục đích là để người ta học cách phân định, nhìn thấu thực chất của các loại người khác nhau, sau đó áp dụng sự trừng phạt và báo ứng thích đáng đối với kẻ ác, để người bị hại chứng kiến việc ác của những người này rồi thì có thể rút ra bài học, biết phân định người khác và hiểu được một phương diện lẽ thật. Do đó, khi thông công với các ngươi về những biểu hiện hành ác cụ thể của một số người, không phải là Ta kích động các ngươi thù hận họ, sau đó lôi kéo các ngươi thêm tin tưởng và tín nhiệm Ta, mục đích của Ta không phải vậy. Hơn nữa, những gì Ta thông công với các ngươi chỉ là những cách làm mà họ biểu hiện ra bên ngoài, Ta còn chưa nói với các ngươi về rất nhiều biểu hiện cụ thể ở sau lưng người khác của họ. Có lúc Ta nói chuyện phiếm với cá nhân nào đó mà nói đến chủ đề này thì Ta nói nhiều hơn một chút, mục đích cũng không phải là để kích động, không phải để khiến ngươi đứng lên đấu tố họ, mà là để giúp ngươi học cách phân định người khác theo lẽ thật, biết nguyên tắc nhà Đức Chúa Trời xử lý người ta rốt cuộc là gì. Nguyên tắc nhà Đức Chúa Trời xử lý người ta thì công bằng và chính đáng, không phải là trừng trị người ta. Mục đích của Ta là giúp trong lòng ngươi hiểu rõ điều này. Như vậy, cho dù Ta nói thêm một số chi tiết cụ thể thì cũng không phải là để kích động, nếu ngươi thực sự có sự phân định đối với họ rồi, thì dừng lại ở đó thôi. Một số người nóng nảy thì luôn muốn đấu, Ta bảo rằng như vậy là không thích hợp, việc gì ra việc nấy, cứ đối đãi với người ta theo nguyên tắc, không cần phải đấu. Nếu họ hối cải rồi, thì chúng ta tha thứ cho họ và đối đãi với họ như anh chị em, nếu họ vẫn kiên trì với cách làm sai trái ban đầu, không có chút hối cải nào, còn phân bua, biện bạch, hở ra là tranh cãi, thậm chí còn xét đoán và tung tin sau lưng người khác, thì chúng ta xem họ là kẻ thù, vĩnh viễn không qua lại với họ, cũng vĩnh viễn không cho họ vào hội thánh. Làm như vậy có thích hợp không? (Thưa, thích hợp.) Từ đầu đến cuối, trong mọi cách làm này, các ngươi xem có phải mỗi một bước đều đang tuân theo nguyên tắc lẽ thật và dựa theo các nguyên tắc đúng đắn mà đối đãi với người ta không? Trong đó có ý của con người không? Có huyết khí không? (Thưa, không có.) Có tác động của cảm xúc không? Có tác động của tình cảm không? (Thưa, không có.) Có cách làm trừng trị người khác không? Có mục đích bảo vệ địa vị của ai đó, bảo vệ thanh danh của hội thánh, bảo vệ sự tôn nghiêm của một người nào đó, hay là bảo vệ sự tôn nghiêm và hình tượng của bản thân Ta không? (Thưa, không có.) Hoàn toàn không có.
Bất kể xử lý loại người nào hay một người nào, thì phương thức xử lý của chúng ta đều là giao cho hội thánh xử lý theo nguyên tắc. Phần lớn là các anh chị em trong nhóm quyết sách tham gia vào chuyện này. Nếu cần thêm các anh chị em tham gia thì vụ này sẽ được gửi đến nhiều lãnh đạo hội thánh khác hoặc các anh chị em ở hội thánh nhiều nơi để họ tìm hiểu cho rõ, sau đó bỏ phiếu và bày tỏ quan điểm, cuối cùng để các anh chị em quyết định nên xử lý người này thế nào. Quyền này được giao cho hội thánh và các anh chị em, hội thánh xử lý thế nào thì cứ theo phương án của các ngươi. Vậy nguyên tắc để các anh chị em xử lý các loại người khác nhau là gì? Chính là đánh giá dựa trên những nguyên tắc mà Ta và người được Đức Thánh Linh sử dụng đã thông công suốt bao nhiêu năm qua. Sau khi xử lý xong, các ngươi sẽ báo cáo lên Bề trên, Ta sẽ xem, người được Đức Thánh Linh sử dụng cũng sẽ xem, cả hai đều sẽ xem qua. Có lúc, Ta thấy các ngươi xử lý tương đối thích hợp, có lúc, kết quả xử lý không hợp với ý của Ta cho lắm. Có người thì có kết quả xử lý hơi nghiêm trọng hơn Ta nghĩ, đương nhiên cũng có kết quả xử lý hơi nhẹ so với Ta nghĩ. Nhưng Ta chưa bao giờ nêu bất kỳ ý kiến nào, Ta tôn trọng lựa chọn của các ngươi, Ta giao quyền này cho các ngươi, cho hội thánh. Tại sao Ta giao cho các ngươi? Các ngươi đã nghe giảng đạo và thông công nhiều năm như vậy rồi, Ta tin rằng đa số các ngươi đều có một tiêu chuẩn để đánh giá về kẻ ác, về việc ác của những người gây tổn hại lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và lợi ích của các anh chị em. Đối với việc nên xử lý những người này thế nào, hơn tám mươi phần trăm mọi người hẳn trong lòng đều có cán cân, đều biết đánh giá và xử lý thế nào là thích hợp. Ngay cả khi có những lãnh đạo và người làm công của hội thánh xử lý hơi sai lệch một chút, nhưng về phương hướng chung thì sẽ không sai, chắc chắn là vậy. Chuyện này dựa trên điều gì? Dựa trên chuyện các ngươi đã hiểu những lời Ta nói với các ngươi cùng những quan điểm mà Ta dạy dỗ và cung ứng cho các ngươi suốt bao năm qua, trong lòng các ngươi đã có đường đi nước bước, Ta tin các ngươi. Cho nên, xét những tình hình này, thì bất kể nhà Đức Chúa Trời thông công và vạch trần biểu hiện của loại người nào hoặc xử lý loại người nào, cũng tuyệt đối không liên quan gì đến cái mà thế giới ngoại đạo gọi là kích động. Bất kể nhà Đức Chúa Trời xử lý loại người nào và cá nhân nào, thì cũng không phải là mở chiến dịch, mà là vì kẻ ác hành ác, chống đối và đối đầu với Đức Chúa Trời thì tất nhiên sẽ bị tỏ lộ, đây là kết quả tất yếu. Mặt khác, xét từ phía Đức Chúa Trời, đây là từng bài học và từng hoàn cảnh mà Đức Chúa Trời sắp đặt hết lần này đến lần khác cho mỗi một người mưu cầu lẽ thật và mỗi một người đi theo Đức Chúa Trời, là cơ hội để ngươi nhận biết công tác của Đức Chúa Trời và phân định kẻ ác, cũng là từng lần thực hành lẽ thật mà ngươi đã lĩnh hội và đã hiểu. Đón nhận từ Đức Chúa Trời chính là rút ra bài học, đơn giản như vậy thôi. Đây là cơ hội cực tốt để rút ra bài học và phân định kẻ ác. Nếu Đức Chúa Trời không sắp đặt những kẻ ác và những kẻ địch lại Đấng Christ này cho ngươi, không để ngươi tận mắt thấy những kẻ ác này hành ác thế nào, chống đối Đức Chúa Trời thế nào, thì những lời Ta thông công bao năm qua về việc phân định kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ có lẽ chỉ là một thứ đạo lý đối với ngươi. Ngươi hẳn sẽ cảm thấy trong hội thánh đâu có người nào ác đến thế, và trong lòng ngươi luôn đặt một dấu hỏi đối với những lời này. Dù không phủ nhận, nhưng ngươi luôn xem những lời này như một dạng đạo lý. Nhưng nếu có kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ xuất hiện, có ví dụ thực tế, thì ngươi sẽ thực sự nhận thức được rằng: “Hóa ra Sa-tan đối xử với Đức Chúa Trời như vậy, hóa ra Sa-tan và kẻ địch lại Đấng Christ chán ghét và thù hận lẽ thật đến vậy, hóa ra Sa-tan và ma quỷ tà ác, xảo quyệt và tham lam đến vậy, chống đối Đức Chúa Trời như vậy. Đức Chúa Trời nói Sa-tan chưa bao giờ tiếp nhận lẽ thật, Sa-tan đơn giản là chán ghét và thù hận lẽ thật, lần này mình thấy rồi. Những kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ này nói dối thành thói, sự thật đã bày ra trước mắt rồi mà còn muốn ngụy biện, họ đúng là Sa-tan sống! Sa-tan đúng là không hề thay đổi bản tính!”. Đức Chúa Trời sắp đặt những con người, sự việc và sự vật này chính là để ngươi rút ra bài học, điểm này đã rõ chưa? (Thưa, đã rõ.) Cho nên, bất kể nhà Đức Chúa Trời thanh trừ và xử lý người nào, hay vạch trần và phân định người nào, thì tính chất của những việc này đều hoàn toàn khác với kiểu tranh đấu hoặc chiến dịch trong nội bộ của bất kỳ đoàn thể hay thế lực nào trên thế gian. Những chuyện xảy ra trong nhà Đức Chúa Trời ít ra đều do Đức Chúa Trời sắp đặt, đến thời điểm nhất định, Đức Chúa Trời sẽ sắp đặt những hoàn cảnh này để kẻ ác xuất hiện và biểu diễn, sau đó khiến kẻ ác bị tỏ lộ và bại lộ, hầu cho dân của Đức Chúa Trời rút ra bài học. Dân của Đức Chúa Trời nhìn thấy những chuyện này xảy ra thì sẽ thông công, rồi thông qua việc thông công mà mọi người ngày càng có nhận thức và sự phân định, ngày càng cảm thấy kẻ ác không yêu thích lẽ thật, thậm chí chán ghét và thù hận lẽ thật, cảm thấy kẻ ác chính là Sa-tan sống. Lần này, vì có ví dụ thực tế nên dân của Đức Chúa Trời đã thấy rõ thực chất bản tính của kẻ ác. Hết thảy những việc nhà Đức Chúa Trời làm đều là điều mỗi dân được Đức Chúa Trời chọn phải trải nghiệm trong quá trình Đức Chúa Trời cứu rỗi con người, xét trên tổng thể thì đây đều là do Đức Chúa Trời sắp đặt, cho nên không phải là chiến dịch. Vậy khi những chuyện này xảy đến, những lời Ta nói với các ngươi cũng giống như bất kỳ lần giảng đạo hay thông công nào, chúng đều là một dạng cung ứng. Nghĩa là Đức Chúa Trời đã sắp đặt một chuyện như vậy trong hoàn cảnh tổng thể, vậy Ta đóng vai trò gì ở đây? Ta chỉ giúp đỡ các ngươi một tay, khi các ngươi chưa nhìn thấy và nhận thức rõ chuyện này thì Ta thông công lẽ thật để giúp đỡ các ngươi, giảng giải và chỉ ra cho các ngươi. Chỉ ra điều gì? Chính là kiến các ngươi nhận rõ trọng tâm của chuyện này và thực chất của vấn đề này, Ta thông qua vài câu nói đơn giản để chỉ ra và nhắc nhở các ngươi, rồi các ngươi lập tức rõ ràng và biết chuyện là thế nào. Ta chỉ nhẹ nhàng hỗ trợ các ngươi một chút như vậy, thì khi trải nghiệm chuyện này, các ngươi sẽ vượt qua một cách nhẹ nhàng và thuận theo ý mình, dâng lên Đức Chúa Trời một câu trả lời khiến Ngài hài lòng. Ngươi phân định được kẻ ác, không còn sùng bái họ nữa, không còn bị họ mê hoặc nữa, không còn tin những lời của quỷ từ họ nữa và có nhận thức rõ ràng về họ: Họ nói dối thành thói, chẳng bao giờ tiếp nhận lẽ thật và họ chính là ma quỷ, điểm này đã được xác định. Trước đây ngươi còn khá sùng bái họ, còn cảm thấy họ thật lòng muốn Đức Chúa Trời, nhưng giờ ngươi đã có sự phân định đối với họ, đã xác định được rằng loại người này không thể được cứu rỗi và loại người này chính là kẻ thù của Đức Chúa Trời. Bất kể hội thánh xảy ra chuyện gì hay trong công tác của các ngươi xảy ra chuyện gì, thì với những công tác Ta làm và những lời Ta nói, Ta đều không ngừng lôi các ngươi, kéo các ngươi, cố hết sức đưa các ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, đưa các ngươi lên con đường đúng đắn, giúp các ngươi hiểu lẽ thật và đạt được lẽ thật, để các ngươi không còn ngu muội và đui mù, không còn dựa vào huyết khí, không còn bám giữ những quan niệm cũ để đối đãi với bất kỳ con người, sự việc và sự vật nào nữa. Bất kể dụng ý và mục đích nói chuyện của Ta cuối cùng đạt được kết quả gì nơi các ngươi, thì tóm lại mục tiêu và phương hướng của Ta chỉ có một, chính là đưa các ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, để các ngươi đứng đúng vị trí của một loài thọ tạo, cho nên đây không phải là kích động. Trong kích động thì có quỷ kế và mục đích theo ý con người, khiến người khác mạo hiểm và lén lút đạt được mục đích của mình. Vậy những việc Ta làm là kích động các ngươi sao? (Thưa, không phải.) Các ngươi đạt được lẽ thật, rút ra được bài học, thì Ta thỏa mãn rồi, Ta không có ý định nào khác. Ta làm vì tư lợi cá nhân sao? (Thưa, không phải.) Ngược lại, Ta phải trả giá, phải hao tâm tổn trí, phải nói mỏi cả miệng để không ngại phiền hà mà thông công với các ngươi, tìm mọi cách nói rõ từng điểm then chốt cho các ngươi. Ví dụ, chuyện này có mười điểm then chốt, nếu Ta nói bớt đi ba hay năm điểm thì những gì các ngươi đạt được sẽ ít đi nhiều. Nếu Ta chỉ thông công đơn giản về mười điểm then chốt này, thì người có tố chất kém sẽ đạt được càng ít hơn. Người có tố chất tốt muốn đạt được điều gì đó thì cũng phải được thông công cho thấu tỏ những điểm này mới ổn, còn người có tố chất kém thì cần được thông công nhiều lần mới hiểu. Cho nên Ta phải nói rõ cả mười điểm then chốt, như vậy thì khi nhóm họp, mọi người cùng nhau chia sẻ và trao đổi thì dần dần đều sẽ đạt được đủ cả. Nhà Đức Chúa Trời là một đại gia đình, một người riêng lẻ thì không thể ăn uống cho thấu tỏ hết mọi lẽ thật. Mọi người cần chia sẻ với nhau, phải luôn luôn cùng nhau cầu nguyện-đọc, chia sẻ và thông công, như vậy mới có thể hiểu được nhiều hơn và toàn diện hơn. Cho nên đời sống hội thánh là điều không thể thiếu, sự thông công và chia sẻ giữa mọi người với nhau là điều không thể thiếu. Cũng có thể lúc đó trong mười điểm then chốt Ta nói, ngươi chỉ đạt được ba đến năm điểm, sau đó mọi người chia sẻ với nhau, thì ngươi có thể đạt được bảy, tám điểm, vài năm sau người khác lại chia sẻ, cũng có khả năng dần dần theo ngày tháng tích lũy, ngươi sẽ đạt được cả mười điểm then chốt. Được như vậy thì những lời Ta nói sẽ không uổng phí, phải không? (Thưa, phải.) Vậy các ngươi đạt được lẽ thật và trưởng thành về vóc giạc rồi thì Ta được lợi gì sao? Ta mong các ngươi nấu cho Ta món gì ngon sao? Mua cho Ta vài bộ quần áo đẹp sao? Mua cho Ta một căn nhà lớn sao? Ta không màng những thứ này. Giống như thuở xưa, Đa-vít muốn xây đền thờ cho Đức Chúa Trời, ngươi nói Đức Chúa Trời nhắm đến cái đền thờ đó sao? Khi đó, con người thực sự không hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, thực sự khá ngu muội. Đức Chúa Trời tuy không đòi hỏi, nhưng thấy Đa-vít có tấm lòng đó thì Ngài cũng chấp thuận và ngầm cho phép. Trong bối cảnh thời đại đó, vóc giạc của con người chỉ có như vậy, Đức Chúa Trời không đặt yêu cầu cao với họ. Nếu ở hiện tại mà người ta làm như vậy thì quá ngu muội, quá không hợp với nguyên tắc lẽ thật.
Ta không bao giờ nói những lời kích động, cũng không làm những việc kích động. Mặc dù Ta căm ghét kẻ ác, căm ghét kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng Ta cũng không kích động mọi người đều đứng lên căm ghét và ruồng bỏ kẻ ác, kẻ địch lại Đấng Christ. Nhiều lời Ta nói đều là để người ta hiểu lẽ thật và thấy rõ chân tướng sự thật, vì vậy không thể gọi là kích động. Bất kể Ta thông công về phương diện lẽ thật nào, các ngươi cũng phải tiếp cận một cách đúng đắn và có thể lĩnh hội một cách đúng đắn. Làm công tác của hội thánh thì phải vậy. Ta cứ không ngại phiền hà mà thông công lẽ thật và cung ứng lẽ thật, không ngại phiền hà mà chia sẻ nhận thức và thể nghiệm về lẽ thật, chia sẻ quan điểm về các loại sự vật, chia sẻ nhận thức về các loại người, còn chia sẻ cách nhìn và thái độ đối với các loại người. Ta không ngại phiền hà mà thông công như vậy, mục đích cuối cùng là để các ngươi có thể hiểu lẽ thật và bước vào thực tế lẽ thật. Vậy xét về kết quả này, thì có phải Ta đã đạt được rồi không? Có phải công tác Đức Chúa Trời làm đã đạt được kết quả này rồi không? (Thưa, đúng vậy.) Có một số người luôn sợ mình tin sai, thế là họ tin những lời đồn của Sa-tan, cho rằng mình bị mê hoặc rồi, cho rằng Đấng mình tin không phải Đức Chúa Trời mà là một con người. Ngươi nói ngươi bị mê hoặc rồi, vậy những lời ngươi đọc có phải lời Đức Chúa Trời không? Lời Đức Chúa Trời có phải lẽ thật không? Những điều nhà Đức Chúa Trời thông công trong các buổi nhóm họp có phải lẽ thật không? Ngươi tin một con người thì có thể đạt được lẽ thật sao? Công tác nào mà nhà Đức Chúa Trời làm là mê hoặc ngươi vậy? Ngươi dựa vào đâu để xác định liệu mình có bị mê hoặc hay không? Nếu điều ngươi tin không phải lẽ thật thì đấy mới là bị mê hoặc, nếu điều ngươi tin là lẽ thật thì không thể nói là bị mê hoặc. Ngay cả khi ngươi chưa đạt được lẽ thật thì cũng không thể nói đấy là bị mê hoặc, chỉ có thể nói rằng ngươi không mưu cầu lẽ thật và không phải người đúng đắn, chính ngươi tự hại ngươi. Ngươi tin Chúa nhiều năm mà không đạt được lẽ thật, thì đây là vấn đề gì? Chắc chắn là ngươi sùng bái mục sư và đi theo con người, như vậy mới là bị mê hoặc. Nhà Đức Chúa Trời đối đãi với mọi người đều công bằng. Ngươi sẵn lòng làm bổn phận, thì nhà Đức Chúa Trời giao bổn phận cho ngươi, còn chịu trách nhiệm về chi phí sinh hoạt của ngươi, không so đo với ngươi. Đây chẳng phải là Đức Chúa Trời nâng cao ngươi sao? Chẳng phải ngươi được của trời cho sao? (Thưa, phải.) Vậy giao bổn phận cho ngươi nhằm mục đích gì? Là để trong thời gian làm bổn phận, với tư cách một loài thọ tạo, ngươi xây dựng mối quan hệ cố định và ổn định với Đấng Tạo Hóa. Trên cơ sở này, Đức Chúa Trời cung ứng lẽ thật cho ngươi, còn sắp đặt các hoàn cảnh cho ngươi rút ra bài học. Nhà Đức Chúa Trời còn luôn thông công với ngươi về lẽ thật và các nguyên tắc để làm từng loại bổn phận. Để giúp người ta đạt được lẽ thật, Đức Chúa Trời có tiêu hao nhiều tâm tư không? Nhà Đức Chúa Trời có làm nhiều công tác không? (Thưa, nhiều.) Con người là bên được hưởng lợi lớn nhất. Ngươi không mưu cầu lẽ thật, toàn mưu cầu danh lợi và địa vị, mà còn nói mình chịu thiệt. Ngươi nói như vậy thì chẳng phải là đổi trắng thay đen sao? Ngươi nói như vậy thì có lương tâm không? Có người nói: “Làm bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời khổ quá, cứ có việc làm mãi không hết!”. Hiệu suất làm bổn phận của ngươi thấp như vậy thì nên khẩn trương làm đi, ngươi cứ muốn ngồi mát ăn bát vàng như vậy thì cũng không hợp nguyên tắc. Có những người luôn muốn ngồi mát ăn bát vàng, đây là vấn đề gì? Những người này chẳng phải là kẻ tham ăn sao? Họ đúng là quỷ đói đầu thai! Họ đến nhà Đức Chúa Trời thì chỉ muốn ăn chực. Người có lương tâm và lý trí thì không sẵn lòng ăn chực. Nhà Đức Chúa Trời cho họ ăn no, thì họ có thể báo đáp ơn của Đức Chúa Trời, báo đáp tình yêu thương của Đức Chúa Trời, có thể không sợ khổ, không sợ mệt mà làm tốt bổn phận. Người không có lương tâm và lý trí thì luôn muốn ăn chực, làm chút việc đã sợ chịu thiệt, thế là họ dùng cách ăn nhiều hơn để chiếm lợi của nhà Đức Chúa Trời. Dạng người này có thể làm tốt bổn phận không? Ta thấy sớm muộn gì họ cũng sẽ bị đào thải. Có người còn nói: “Làm việc trong nhà Đức Chúa Trời mệt quá!”. Thì ngươi cũng đâu có sở trường gì khác, ngươi không làm việc, không làm bổn phận thì ngươi phải quay về thế gian mà làm thuê kiếm sống, công việc đó chẳng mệt sao? Ngươi còn muốn ăn chực trong nhà Đức Chúa Trời sao? Nhà Đức Chúa Trời không phải viện dưỡng lão, cũng không phải tổ chức từ thiện. Ngươi luôn muốn ăn chực, thì ngươi có lương tâm không vậy? Chúng ta không nói về chuyện nhà Đức Chúa Trời đã tiêu tốn bao nhiêu để cung ứng cho các ngươi ăn mặc và tiêu dùng, chỉ riêng lẽ thật ngươi đạt được, có thể dùng thứ gì để mua được đây? Có thể dùng vàng hay kim cương để mua được sao? Dùng thứ gì cũng không mua được, lẽ thật là vô giá. Khi cung ứng lẽ thật cho các ngươi, Ta có đòi các ngươi một đồng nào không? (Thưa, không.) Ta giảng đạo cho các ngươi thì phải bỏ ra bao nhiêu tâm huyết? Có lần nào Ta thông công lẽ thật mà không khiến các ngươi đạt được ích lợi không? Có lần nào nhóm họp mà khiến các ngươi uổng phí sức lực và thời gian không? (Thưa, không có.) Ta đâu có phụ lòng các ngươi chút nào, mỗi lần giảng đạo Ta đều giúp các ngươi có chút thu hoạch. Khi Ta nói chuyện, tán gẫu với các ngươi, ngay cả khi Ta kể chút chuyện cười, thì đều là giúp các ngươi hiểu lẽ thật. Vì vậy Ta cứ nói mãi, nói không ngừng để làm cho các ngươi có thể hiểu lẽ thật. Như vậy mà có người còn nói tin Đức Chúa Trời là bị mê hoặc, đây có phải là bị mê hoặc không? (Thưa, không phải.) Có một điểm có thể chắc chắn về người nói mình bị mê hoặc đó, chính là họ không phải chiên của Đức Chúa Trời. Không phải chiên của Đức Chúa Trời thì họ không hưởng được cái phúc hiểu lẽ thật. Họ đáng phải chịu sự hành hạ của tội lỗi và sống trong đau khổ, để Sa-tan tùy ý giày vò và tiếp tục làm bại hoại họ, rồi cùng Sa-tan diệt vong, đó là đích đến họ đáng phải nhận. Họ không phải chiên của Đức Chúa Trời, và không hưởng được cái phúc này. Họ đọc lời Đức Chúa Trời thì trong lòng liền chịu không nổi, gánh không nổi, giống như có người phận bạc không gánh nổi phúc vậy, nếu được hưởng thụ quá tốt thì sẽ chết yểu. Các ngươi nói xem, đã nhóm họp và thông công với các ngươi nhiều năm như vậy, Ta có đòi các ngươi một đồng nào không? (Thưa, không.) Có người đưa thẳng cho Ta mấy trăm đồng, bảo Ta mua chút thực phẩm bổ dưỡng để bồi bổ sức khỏe, Ta nói: “Ta không cần, Ta có đủ dùng rồi, tiền này ngươi giữ lại đi, hoặc xem hội thánh cần gì thì ngươi mua, xem có anh chị em nào cần phí sinh hoạt, phí đi đường thì ngươi có thể đưa cho họ, ngươi không cần đưa cho Ta”. Còn có người đưa tận tay cho Ta vài món đồ tốt, Ta đều không nhận. Từ đầu đến giờ Ta chưa từng lấy một đồng hay một thứ nào từ tay ai cả. Có người dâng cho Ta một số đồ dùng, hầu như lúc nào Ta cũng từ chối. Nếu thực sự là thứ Ta cần thì Ta nhận một chút, còn phải thể hiện sự cảm ơn với họ. Ta chưa từng đòi hỏi đồ dùng cá nhân của bất kỳ ai. Ta sẽ không thấy ngươi mặc quần áo đẹp, thấy ngươi ăn uống ngon, rồi bảo ngươi đưa cho Ta một cái, chia cho Ta một chút. Ta chưa từng đòi hỏi những thứ này. Bấy nhiêu năm qua, Ta nhóm họp và thông công với các ngươi đều là miễn phí, không đòi các ngươi một đồng nào, cũng không bảo các ngươi nộp một đồng nào. Hơn nữa chúng ta nhóm họp và thông công từ trước đến nay chưa bao giờ nói về việc dâng hiến. Vì vậy Ta không biết tại sao có người đã tiếp nhận giai đoạn công tác này và đã tin nhiều năm đến vậy mà vẫn có thể nói mình bị mê hoặc. Mê hoặc ngươi cái gì chứ? Ngươi bị lừa tiền hay lừa tình? Đều không có. Vậy người đó có thể nói ra những lời như vậy, thì các ngươi xác định tính chất họ là loại người gì? (Thưa, kẻ chẳng tin.) Đây chính là kẻ chẳng tin, họ không phải là chiên của Đức Chúa Trời, họ là ma quỷ, nên có thể ngậm máu phun người.
Chúng ta nhóm họp thì luôn thông công lẽ thật, thông công nhiều năm như vậy, cuối cùng các ngươi cũng có chút căn bản nhập môn rồi. Ta thấy hiện nay có nhiều bài lời chứng trải nghiệm như vậy, và trong cuộc sống, nhất là trong đủ loại chuyện gặp phải khi làm bổn phận, người ta đều có một số trải nghiệm và nhận thức, họ đều có chút thu hoạch về lẽ thật và chút tiến bộ về sự sống. Như vậy cho thấy các ngươi thường xuyên nghe Ta nói chuyện và giảng đạo, đã nảy sinh những tư tưởng và quan điểm đúng đắn, nói ra được những nhận thức trải nghiệm chân thực, đây là điều Ta mong muốn nhìn thấy nhất. Ta khuyến khích các ngươi viết thêm nhiều bài lời chứng trải nghiệm. Cho dù nhận thức còn nông cạn, chỉ cần có liên quan một chút thôi thì cũng cứ viết đi, càng viết thì nhận thức của ngươi càng sâu sắc. Người ta nhận biết lẽ thật, hiểu lẽ thật và thể nghiệm lẽ thật chính là như vậy. Ngươi càng đặt nặng và trong lòng càng xem là chuyện hệ trọng, thì nhận thức của ngươi về lẽ thật càng có những tư tưởng và quan điểm rõ ràng. Càng có những tư tưởng và quan điểm rõ ràng, thì khi đặt bút, ngươi càng có cái để viết và càng có thể viết ra được. Nhưng nếu ngươi luôn ngẫm nghĩ trong tiềm thức ngươi hoặc chỉ đơn giản nghĩ sơ qua một chút, thì ngươi sẽ không nảy sinh được bất kỳ tư tưởng và quan điểm rõ ràng nào. Đến khi đặt bút thì ngươi cảm thấy: “Mình có nhận thức mà, sao lại không viết ra được nhỉ?”. Ngươi không viết ra được chính là vì ngươi không có tư tưởng hay quan điểm, ngươi không biết phải viết thế nào. Không có tư tưởng và quan điểm thì bài ngươi viết sẽ không có hồn, không có phương hướng và mục tiêu, ngươi sẽ không xác định được bài này phải viết theo hướng nào. Ngươi viết bài này với mục đích là gì, kết quả cần đạt được là gì, nguyên tắc lẽ thật có liên quan mà ngươi đã nhận biết là gì, lẽ thật có liên quan là gì, những điều này mà ngươi không biết và không xác định được thì không thể đặt bút viết ra. Nếu ngươi có thể xác định được, ngươi nhận biết được rốt cuộc lẽ thật là gì, chỗ sai lầm của ngươi nằm ở đâu, chỗ lệch lạc của ngươi nằm ở đâu, hiện nay thông qua việc hiểu lẽ thật, ngươi đã xoay chuyển điều gì và đạt được điều gì, nếu ngươi rõ ràng về những điều này, thì có thể đặt bút viết ra. Rất nhiều người đã có một số thu hoạch về phương diện này, có thể thấy được điều này từ những bài lời chứng trải nghiệm được nhà Đức Chúa Trời đăng lên. Một số người đã bắt đầu có lối vào sự sống rõ ràng, đương nhiên một số người cũng đã có thu hoạch rõ ràng về lẽ thật. Có thể nói chắc chắn rằng, số người có thu hoạch về lẽ thật này đã có một số nguyên tắc lẽ thật làm sự sống ở bên trong họ, đây là một khởi đầu rất tốt, cũng là một hiện tượng rất tốt. Cũng có thể nói, có được thu hoạch này là kết quả đạt được nhờ trong nhiều năm qua chúng ta thông công về các phương diện lẽ thật ngày càng tỉ mỉ, ngày càng cụ thể. Ta đưa ví dụ này ra để làm gì? Chính là nói cho các ngươi biết rằng, đã nghe Ta giảng đạo và thông công nhiều năm như vậy, dựa trên những lẽ thật mà các ngươi có thể hiểu, bất kể xét ở tầm mức đạo lý hay tầm mức thực tế, thì các ngươi đều không nên tiếp tục cho rằng nhà Đức Chúa Trời là thứ được gọi là đoàn thể của con người nữa. Bất kể thông công về phương diện lẽ thật nào, nhận biết chuyện cụ thể nào, hay là thông công về một số hành vi, sự kiện đặc biệt nào của kẻ ác, thì các ngươi đều không nên dùng tư tưởng và quan điểm của người ngoại đạo để đánh giá nữa. Thay vào đó, các ngươi nên đón nhận từ Đức Chúa Trời, nỗ lực rút ra bài học, nghiêm túc tiếp cận, sau đó để tâm suy ngẫm và học tập lẽ thật cần hiểu trong đó. Ngươi hãy nhớ một điểm này, bất kể là Ta thông công, hay người được Đức Thánh Linh sử dụng thông công, hoặc các anh chị em bên dưới thông công, nếu thực sự có liên quan đến một loại kẻ ác mà người ta nên phân định hoặc một loại bài học mà người ta nên rút ra, thì chỉ cần liên quan đến lẽ thật, chỉ cần là một phương diện lẽ thật mà ngươi nên hiểu và nắm rõ, thì ngươi nên tiếp cận một cách đúng đắn và nghiêm túc. Ngay cả khi cách làm của cá nhân nào đó có phần quá khích và cố chấp, chỉ cần ngươi không làm như vậy là được. Ngươi chú trọng vào lẽ thật, dốc công sức vào lẽ thật, nhận biết thực chất của chân tướng sự việc, nhận biết và phân định những nhân vật tiêu cực, tiếp nhận những điều tích cực và thực hành theo con đường tích cực, như vậy là đạt hiệu quả rồi và ngươi có thể có thu hoạch. Ngươi không nên dùng quan điểm của người ngoại đạo để nhìn nhận chuyện này, luôn cho rằng: “Nhà Đức Chúa Trời thông công về chuyện vạch trần kẻ ác và thanh lý kẻ ác, đây là đang phát động chiến dịch, là đang kích động, dụ dỗ chúng ta làm một số chuyện. Mình sợ vạch trần kẻ ác thì sẽ rước họa vào thân, sẽ tự chuốc phiền phức”. Ngươi không cần lo lắng chuyện này, trong nhà Đức Chúa Trời thì tuyệt đối là lẽ thật nắm quyền. Ngươi tin Đức Chúa Trời tể trị, tin Đức Chúa Trời là toàn năng, tin Đức Chúa Trời là công chính, thì ngươi nên lĩnh hội chuyện này một cách đúng đắn, cũng nên có thái độ đúng đắn, nỗ lực để bản thân khi gặp mỗi một chuyện, khi gặp những sự kiện đặc biệt này thì có thu hoạch về lẽ thật, chứ không phải làm một kẻ đứng ngoài quan sát hoặc làm một kẻ chẳng tin để cố hết sức bảo toàn bản thân. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Ngươi xem, những lời Ta nói đây có giúp ích cho các ngươi không? (Thưa, có.) Nếu ngươi muốn làm kẻ đứng ngoài quan sát, thận trọng dè dặt mà sống, thì đức tin của ngươi đối với Đức Chúa Trời quá nhỏ rồi. Ngươi không tin sự thật rằng Đức Chúa Trời công chính, toàn năng và tể trị vạn vật. Ngay cả khi không thể nói ngươi là kẻ chẳng tin, thì ít nhất ngươi cũng giữ thái độ nghi ngờ, ngươi chưa phó thác lòng mình cho Đức Chúa Trời và ngươi không thật lòng với Đức Chúa Trời. Đây là một loại người, chính là loại nhát gan, gặp lúc hội thánh tiến hành công tác thanh lọc và cần vạch trần kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác, thì họ lùi bước, trốn tránh và thỏa hiệp. Còn có một loại kẻ chẳng tin khác, khi gặp những chuyện này thì cho rằng: “Nhà Đức Chúa Trời lại phát động chiến dịch rồi, mình không tham gia đâu. Mình không được nói ra, lỡ như nói không đúng rồi bị khai trừ thì biết làm sao? Mình không vạch trần ai, không đối địch với ai, cứ bảo vệ bản thân cho tốt là được rồi. Mình cứ bảo toàn bản thân thôi. Ai có việc ác gì mình cũng không thấy, ai nói lời vô lý nào, mình cũng chẳng nghe, ai làm chuyện gì gây gián đoạn và nhiễu loạn, gây tổn hại lợi ích nhà Đức Chúa Trời, thì mình cũng không biết, không nhìn thấy, mấy chuyện đó chẳng liên quan gì đến mình”. Đây là quan điểm của kẻ chẳng tin. Ngươi chẳng những không bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời, mà còn xem nhà Đức Chúa Trời là trò cười, đồng thời còn cố hết sức bảo vệ bản thân, bán rẻ lợi ích nhà Đức Chúa Trời. Người như vậy trong mắt Đức Chúa Trời là dạng người gì? Đức Chúa Trời có thích họ không? (Thưa, không thích, trong mắt Đức Chúa Trời, người như vậy là người ngoại đạo.) Đức Chúa Trời xem ngươi là người ngoại đạo. Ngươi đang làm bổn phận đấy, nhưng Đức Chúa Trời đâu có chấp nhận ngươi, Đức Chúa Trời đâu có công nhận ngươi là loài thọ tạo của Ngài, như vậy thì phiền phức rồi. Ngươi bảo vệ mình rất tốt, nhưng ngươi bảo vệ mình thì cũng vô dụng, ngươi phải để Đức Chúa Trời bảo vệ ngươi. Đức Chúa Trời muốn bảo vệ ngươi thì ngươi sẽ không có gì phải lo, Đức Chúa Trời muốn bảo vệ ngươi thì ngươi có thể đạt được lẽ thật, có thể đạt được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Ngươi nên cầu nguyện xin Đức Chúa Trời bảo vệ, ngươi hãy làm bổn phận và trách nhiệm mà con người nên thực hiện, chứ đừng tự mình bảo vệ mình. Ngươi có bản lĩnh lớn đến đâu để có thể bảo vệ được mạng sống của mình? Ngươi có bản lĩnh lớn đến đâu để có thể giữ được đích đến của mình? Ngươi đâu có bản lĩnh này, ngươi đâu làm chủ được mình. Nếu ngươi thông minh thì nên phó thác bản thân, gặp bất kỳ chuyện gì cũng đứng đúng địa vị của một loài thọ tạo, làm tròn trách nhiệm của mình, làm trọn bổn phận của mình và cố hết sức bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời. Nếu ngươi có thể tận tụy làm tốt bổn phận và bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời, thì ngươi xem liệu Đức Chúa Trời có thể giao ngươi cho Sa-tan không, liệu ngươi có thể chết không, liệu hội thánh có thể khai trừ ngươi không. Nếu ngay cả điểm này mà ngươi cũng không xác định được, thì ngươi chính là một kẻ chẳng tin không hơn không kém, ngươi là người ngoại đạo. Đức Chúa Trời không cứu rỗi, cũng không hoàn thiện người ngoại đạo, Đức Chúa Trời không muốn loại người này. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Đã có được những tư tưởng và quan điểm như vậy rồi, sau này gặp bất kỳ chuyện gì, thì ngươi đừng đứng ngoài cuộc, ngươi phải xem mình là một thành viên trong đại gia đình nhà Đức Chúa Trời. Lợi ích của nhà Đức Chúa Trời liên quan đến lợi ích của mỗi anh chị em, cũng liên quan đến lợi ích của ngươi. Lợi ích của nhà Đức Chúa Trời bị tổn hại thì ngươi phải ý thức được rằng lợi ích của mình cũng bị tổn hại. Ngươi nên đứng ra ngăn chặn, phân định, sau đó thông công với các anh chị em để bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời. Đây mới là việc nên làm và hành vi nên có của người trong nhà Đức Chúa Trời. Đây mới là việc mà dân của Đức Chúa Trời và chiến binh tinh nhuệ của vương quốc nên làm. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.)
Được rồi, hôm nay thông công đến đây thôi, tạm biệt!
Ngày 19 tháng 10, 2024